vvn
07-11-2005, 04:34 AM
MÁU CỦA LÁ
Truyện ngắn của Võ Thị Hảo
Tớ sắp chết! Cậu biết không? Tớ đang chết dần...
Một giọng nói ngàn ngạt như vọng lên từ vực thẳm. Tôi giật mình ngó quanh. Không ai. Chỉ tôi và Huân. Anh đang nhìn tôi qua ly cà phê và chậu cây thiên tuế của nhà hàng "Hương Đêm".
Tôi cười khì:
- Cậu thì có mà cho vào cối giả cũng vẫn sống nhăn...
Những lời sắp lẩy ra bỗng rơi đâu mất. Tôi vừa bắt gặp cái nhìn trống hoang trong mắt anh. Huân chìa ra mảnh giấy nâu xỉn ghi kết quả sinh thiết của bệnh viện K.
Ung thư!
Những người tôi quen đã đi xuống mộ quá nhiều vì ung thư. Tôi nghĩ đến những đến những con sâu nhỏ màu xanh đang quằn quại giẫy chết trong chất độc dioxin màu da cam hay dưới bình phun vô-pha-tốc và ruột gan quặn thắt buồn nôn. Trước sự tàn bạo của chính mình, con người hơn gì những con sâu đó?
Huân đẹp quá! Bốn mươi hai. Khuôn mặt với nước da hơi tái được viền bởi bộ râu quai nón ửng xanh. Đôi mắt dài anh minh như thấu hiểu tất cả. Tiến sĩ y khoa. Chưa vợ. Và ung thư dạ dày.
Không dám nhìn Huân, tôi tránh trớ hướng vào cành lá thiên tuế đang úa vàng và thấp dần về đất trong chậu cảnh. Thiên tuế nhọc nhằn lắm mới ra nổi một lá.
Tôi đang rủa thầm sao bệnh viện nỡ để cho con bệnh biết mình sắp chết thì Huân đã chuyển giọng, cố làm ra vẻ bất cần:
-Với tớ, tất cả đã rõ ràng. Gọi cậu đến không phải để than vãn. Vài tháng nay, tớ đã cố dọ dẫm đồng hành với thần chết.
Cậu có biết trẻ con sợ ma, chúng làm thế nào không? Đầu tiên, nhắm chặt mắt lại, gào lên. Gào chán bắt đầu mở he hé mắt, nhắm tít, rồi lại mở ra, cố mở to dần và mở hẳn. Tớ cũng vậy, cơn hoảng loạn qua rồi. Chết trẻ thế này có lẽ lại hay, được nhiều người tiếc. Cậu đi đưa ma tớ chứ? – anh cười chua chát.
Tôi quay đi, cắn môi đến bật máu, lau vội giọt nước mắt rớt ra ngoài kính. Huân ơi! Rồi đây nắp quan tài sẽ ập xuống trong tiếng búa. Có lẽ chiếc quan tài sẽ nghẹn lại khi phải nuốt chửng một người đàn ông tuấn tú như anh!
Một cô gái bó chặt đùi trong chiếc mini juyp tím núng nính tiễn khách. Quay lại, vừa trông thấy Huân, cô õng ẹo tiến đến. Vầng trán rạng rỡ của Huân chút nữa thì cộc phải đôi đầu gối rám hồng đong đưa:
- "Tươi mát" một giây đi, anh yêu!
Tôi trừng mắt. Suýt nữa đã đập thẳng chiếc gạt tàn vào khuôn mặt đẹp trơ trẽn ấy. Có lẽ trông tôi dữ dằn lắm nên cô ta sợ hãi bỏ đi, lẩm bẩm:
- Đ... gì. Đồ mặt trắng các người bao giờ mới có nổi một xu rách! Cứ vờ cao đạo...
Huân ngửa đầu ra sau, cười, cái cười của người đã sang sông và nhìn lại chuyến đò đầy mắm tôm với cái nhìn bao dung.
Mà phải! Rồi đây anh trắng tay. Cả đến một câu chửi tục cũng không còn khả dĩ khuấy động thế giới đen ngòm mà anh sắp bước vào.
Tôi đang nghĩ lan man, Huân gọi:
- Này, tớ bảo cậu đến để nói điều khác kia...
Anh chuyển chỗ, nhìn ra đường, liếc đồng hồ rồi kéo tôi sang. Một lát, anh khẽ kêu: "Kia rồi! Nhìn đi".
Phút chốc, vẻ đau đớn của con báo bị trọng thương biến mất. Đôi hàng mi anh lưng chừng khép và hơi run rẩy. Chỉ khi chờ người yêu, người ta mới có được vẻ xao xuyến thế.
Tôi nhìn theo hướng tay anh trỏ, tưởng đến bóng yêu kiều của một thiếu nữ sẽ hiện ra đầu con đường nắng nhợt. Và khoảng dăm ba phút sau một chấm nhỏ hình xoan tiến đến gần.
Đó là cô gái nhỏ xíu chỉ cao khoảng hơn một mét. Ngực lép, đôi mắt tròn mở rưng rưng. Làn môi trên hằn một vết sẹo trắng kéo miệng hơi xệch về bên trái. Có lẽ đó là sẹo vá môi. Ngược với môi trên, môi dưới cô mọng đỏ, hơi lõm giữa như một lúm đồng tiền nhỏ xíu thoảng qua, chia thành đôi cánh hoa nũng nịu. Chiếc làn trên tay cô là thứ làn đi chợ của các bà nội trợ từ những năm sáu mươi. Dáng đi khập khiễng của cô khiến người ta nghĩ đến bóng con chim sâu đang nhẩy chon von trên đường, mỏ quắp một cành lá lệch người. Tôi nhìn rõ cô gái vì cô xê dịch rất chậm trên đường. Rồi bỏ qua cô, tôi ngóng ra xa. Người mà Huân chờ, hẳn là một người đẹp.
- Nhìn đâu thế? Nghe đây!
Huân rút từ trong túi ra một bức thư dày cộp, được bọc ngoài bằng ni lông hơng và ướp nước hoa:
Đọc đi! Đọc qua cho biết.
Ngoài bì thư đề "Gửi anh M". Nét chữ không đều đặn, chứng tỏ người viết hẳn phải là người mơ mộng.
Tôi ngạc nhiên:
- Cậu đọc trộm thư ai vậy?
- Của tớ! Thư tình người yêu! Đọc đi rồi sẽ biết.
Trang giấy lấm tấm xanh. Những đoạn nhạt màu có lẽ vì nước mắt.
"Anh yêu!
Bẵng đi bốn tháng ròng, em không nhận được chữ nào của anh. Dường như em sắp chết. Chị Văn em bảo thư thất lạc là thường. Em tưởng anh đã tan ra như một làn khói!
Anh ơi! Tạo hóa đã say rượu khi nặn ra em. Hồi mười bốn tuổi, em suýt uống cạn bát nước lá trúc đào. Đó là lần đầu tiên em nhìn thấy toàn thân mình hiện mồm một trong tấm gương lớn mà bố mới mua về.
Bố em nói, em là một con nhỏ đã nhồi quá nhiều tiểu thuyết vào đầu. Người đẹp và đĩnh đạc. Vì thế, em là một " tác phẩm" làm hổ danh người. Lúc khách đến nhà em thường kiếm cớ lánh mặt để làm người vừa lòng.
Lúc thi vào đại học đạt điểm ưu nhưng không một trường nào nhận vì lỗi hình thể, em đã cầu cho mình hoá điên - người điên sung sướng vì họ trôi mông lung trong thế giới huyền ảo và họ không nhận ra họ. Thường thường, em thắp hương khấn cầu được chết. Tại sao Thượng Đế nỡ đặt bộ óc vào đầu một đứa con mà ngài đã nặn ra trong cơn say?
Thế là em ở nhà với nồi niêu, những con mèo và đám tiểu thuyết. Người yêu đầu đời của em là ông Rôchetxtơ trong bộ "Jên Êrơ"[1].
Đêm đêm, đôi khi em thấy Rôchetxtơ cúi xuống mỉm cười. Ông mở vạt áo choàng sẫm màu, dịu dàng nhốt em vào và đi ra ngoài trời trăng.
Nhưng em chợt nhận ra, ông thật cao lớn, lớn quá so với khổ người bé tí của em. Em rụt đầu lại. Rôchetxtơ dừng lại bởi ông thấu hiểu mọi nhẽ. Ông nói:
- Này cô bé xấu xí yêu quý! em muốn ta nhỏ lại một chút, phải không>
Em gật đầu, ngước nhìn ông biết ơn. Nhưng có tiếng máy bay sầm sập. Bom xé. Nhà đổ. Trẻ khóc.
Rôchetxtơ đặt em xuống, lao vào lửa. Một lát, người ta khiêng ông ra. Hai con mắt ông chỉ còn là hai hố trống ngòm đỏ. Rôchetxtơ đã chết.
"Ngay cả trong mơ, trời cũng cắn xén của em. Trời không cho em hưởng trọn một giấc mơ nào". Em khóc với anh Tuân em.
Anh Tuân lặng lẽ vuốt tóc em. Những trò chơi trẻ con mà anh ấy thường miệt mài bày đặt làm cho em thích nay không cần nữa.
Một tháng sau, em nhận được bức thư của người con trai giấu mặt ký tên M. Thư anh.
Nhiều khi em tự hỏi: Anh thật hay chỉ là hư ảo? Tại sao anh giấu mặt? Em muốn tìm anh. Sẽ được, nếu em cố tìm, nhưng lại sợ "Dù chỉ một lần thôi em tìm biết anh thì những lá thư sẽ không bao giờ trở lại" như anh đã viết. Vì thế, chính em cũng sợ gặp anh. Thôi thì hãy bằng lòng với những lá thư. Ba năm nay, em đeo lá thư đầu tiên của anh trước ngực, trong chiếc túi lụa nhỏ sau lần áo lót.
Anh ơi! Có biết em còn muốn tự dối lừa mình hơn nữa, để không nghĩ đến một ngày sẽ chẳng còn thư, nghĩa là chẳng còn anh. Và thế chẳng còn em.
Giấy báo tử của anh Tuân - người yêu quý em nhất trên đời này. Rồi bặt thư anh. Em đã nói dường như em sắp chết. Mẹ nhận được giấy, bị xuất huyết não nằm liệt giường. Cả ngày mẹ nằm mở mắt chong chong, thảng thốt nhìn em cười như nhìn một vật lạ. Bố bị huyết áp biến chứng, đi lại nhiều khi phải nhờ em dắt. Chị Văn vừa gặp một thằng Sở Khanh. Em cho rằng những người tốt thường không gặp may. Vì thế, em lo cho anh.
Cuối cùng trời phật cũng động lòng trước lời khẩn cầu của em. Bốn tháng sau, em lại nhận được thư anh, mặc dù giọng điệu và nét chữ hơi khác. Anh bảo vừa bị điều đi làm công tác bí mật nên không được phép viết thư. Em cũng mong là như vậy. Thế giới ngoài kia đầy bí mật. Và điều bí mật lớn nhất là anh.
Anh ơi! Em vẫn còn sống, chừng nào còn thư anh..."
Lá thư dài như những trang tiểu thuyết và cuốn hút như có ma lực. Hơn cả những dòng chữ là một vẻ thiêng. Tôi rụt tay về rồi lại chạm nhẹ mấy đầu ngón tay lên trang thư. Nghĩ đến một thánh đường màu trắng, Trên đó, một trái tim nhỏ xíu đang thoi thóp đập.
-Thư cô ấy đấy ư?
-Phải!
-Lẽ nào? Cậu... Cậu yêu cô ta?
-Không yêu. Không đời nào. Tớ là kẻ duy mỹ.
-Thế...tại sao?
- Cậu đoán được rằng tớ là tác giả của những bức thư gửi cho cô ấy rồi chứ? Đúng. Nhưng chỉ đúng một nửa...
Và anh ngả người sang, dứt chiếc lá thiên tuế vừa đổ xuống, uốn cong thanh hình chiếc lược vàng, mơ màng kể cho tôi nghe câu chuyện sau, câu chuyện rất khó tin mà xưa nay tôi tưởng chỉ gặp trong tiểu thuyết:
*
"Đã mấy năm rồi, mà mỗi lần nhớ lại, ruột gan tớ như bị ai đó nắm chặt lấy, xoắn mạnh.
1974. Tớ ở chiến trường Buôn Mê, cùng đơn vị với Tuân. Tuân là hoạ sĩ, nhập ngũ năm trước. Cả ngày cậu ta chỉ nói vài câu, mắt cứ lơ mơ buồn. Đêm đêm, cậu ta thường trùm chăn viết thư dưới ánh đèn pin lúc tắt lúc bật lập loè như ma trơi. Đồn rằng cậu ta viết thư cho người yêu đẹp lắm ở Hà Nội, sợ mất nên cứ phải giữ bằng thư. Cậu từng là lính, biết rồi đấy. Trong chiến tranh, người ta quen buộc mình và người khác tự bóp nát tim, cốt che giấu những tình cảm tự nhiên nhật, hy vọng rằng vì thế khả dĩ chịu đựng được những hoàn cảnh quái gở. Vì thế cho nên, dù Tuân gan lì trong các trận đánh nhưng vẫn bị xếp vào loại có biểu hiện yếu đuối. cần kèm sát, đề phòng đảo ngũ.
Trận ấy tớ đi bên Tuân. Tiếng súng đã thưa thớt. Chiều sậm tái buồn đứt ruột. Đã kết thúc một trận đánh mà cả hai bên dần như chỉ vờn nhau để thăm dò.
Tớ vốn là lính mới tò te nên đi lại trong rừng quá chật vật, cứ rớt lại đằng sau. Tuân dừng lại chờ tớ. Không lê nổi chân nữa, tớ ngã ngồi xuống một tảng đá:
-Khát khô cả họng. Đứt hơi mất!
Tuân dừng lại, nhìn quanh. Đá cũng nâu bầm ong ong. Những thân cây trụi lá đen sẫm đan chằng chịt như mê hồn trận của quỷ sứ. Không còn tìm đâu ra nước. Tuân cúi xuống, dò dẫm trên lòng suối khô nứt nẻ. Hồi sau, anh reo lên khe khẽ, vồ lấy vật gì bẩn thỉu tròn tròn bằng đầu ngón chân cái và đưa cho tớ.
-Đập vỡ ra và mút đi. Đỡ khát đấy!
Tớ ghê tởm nhìn, mặc dù cổ họng như đang bị cào xé. Tuân đón lấy, khéo léo đập vỡ. Lòng bàn tay anh lầy nhầy một thứ đen đen mông mốc. Nhìn kỹ, hoá ra đó là một cái ruột ốc còn cựa quậy.
- Có lẽ đây là cái ruột ốc duy nhất còn sót lại của rừng này. Số cậu hên thật. Nuốt đi!
Tớ oẹ khan mấy tiếng. Nhưng cuối cùng, khát quá, tớ liều chết đón lấy vật bẩn thỉu đó cho vào mồm nuốt chửng rồi lấy tay bưng miệng, nước mắt nước mũi trào ra. Nhưng cùng với ghê tởm, có một cảm giác dịu mát lan lan đầu lưỡi khiến tớ tỉnh hẳn. Mở mắt ra, tớ thấy "Quả táo Adam" nơi cổ Tuân giật giật mấy lần có vẻ thèm thuồng. Hoá ra anh còn khát hơn cả tớ.
-Sâm của Trường Sơn đấy. Đừng ghê!
Tớ nhăn mặt khổ sở nhìn anh. Cả hai cùng phá lên cười. Mặt Tuân sáng ngời như trẻ thơ. Anh nhặt được bên chân một quả trứng nhỏ trắng xanh, tung sang:
- Trứng rắn đấy. Hồi bé mình và con Tâm - Tên em gái Tuân - bị một phen hú vía. Nhặt được quả trứng như thế này, hai anh em thay nhau ấp trong tủ quần áo. Con Tâm cứ đinh ninh đó là trứng Tiên. Đủ tháng đủ ngày, hiện ra một vật loằng ngoằng...
Bỗng một tiếng "bục" khẽ. Tuân đưa tay ôm ngực và cứ thế, thấp dần, thấp dần, không một tiếng kêu, gục xuống. Khoảng trắng của bàn tay anh cứ bị nuốt dần, thành một quầng máu sủi bọt. Im lặng rùng rợn.
Tớ kinh hoàng thét lên, bỏ chạy. Chạy được vài chục bước, tớ vấp dúi dụi vào một búi cây, lúc đó mới sực tỉnh, hộc tốc chạy trở lại, ào tới, đỡ Tuân trong tay, rối rít lay gọi...
Hồi lâu, Tuân mới khó nhọc mở mắt. Cơn đau làm nước mắt cứ nhểu xuống ướt đẫm cả chân tóc:
- Mình thấy bỏng rẫy trong ngực. Chết mất!
Tớ băng cho Tuân. Nhưng máu cứ lầm lì thấm ướt đẫm hết lần băng này đến lần băng khác - một viên đạn lạc đã găm vào dưới bả vai anh. Tớ chỉ còn biết đặt anh lên đùi, lật bật vuốt nửa ngực lành trong vô vọng. Và máu cứ rỉ rả chảy xuống đùi tớ. Chốc lát, tớ đã ngồi trong vũng máu và cảm thấy như từng giọt máu mình cũng đang hối hả rời huyết quản.
Kỳ lạ là những lời cuối cùng, Tuân không nói về anh, về cái chết như một con trăn lớn đang nhằn từng phần thân thể. Anh chỉ kể về cô em gái tật nguyền tên Tâm. Giờ mới biết, những đêm anh cặm cụi viết thư bên ánh đèn ma trơi ấy là viết cho em Tâm.
- Mình chết...Thiếu thư... con bé sẽ chết mất. Ngày ấy, mình giằng bát nước trúc đào trên tay nó... Rồi nghĩ ra những bức thư của chàng trai ẩn danh...
- Thế mà cô bé cũng tin ư? Khó tin lắm!
- Khó, nhưng tin, vì nó muốn tin. Nó đã nhồi vào đầu bao nhiêu điều phi lý...
- Nghĩa là một phần, cộ bé tự dối mình?
- Biết làm sao? Và mình sung sướng. Cậu không có em gái tàn tật, không hiểu được. Mắt con bé rưng rưng. Nó cần những lời yêu đương ngọt ngào như cần nước...
Tuân bắt đầu thở dốc:
- Bây giờ....chàng trai ẩn danh ấy... chết. Những bức thư...chết. Và cô bé... Trời ơi!
Mắt Tuân dại lạc đi trong cơn đau giẫy chết. Anh quằn người, cào một nắm đất lẫn sỏi tống vào mồm. Một viên sỏi vỡ "cóc" nghe khô rợn người giữa hai hàm răng nghiến chặt. Anh ngước lên nhìn tớ, và cầu khẩn. Miệng mấp máy toan nói. Nhưng cổ anh đã ngật ra. Cái nhìn đau đáu tạc lại trên khuôn mặt trắng nhợt như thạch cao.
Cậu có tin không? Tớ gào lên, vật vã lu loa như một mụ đàn bà ngoa ngoắt. Một mình trong rừng với xác chết trên đùi. Những thân cây đen ngòm như những bộ xương đang sắp nhảy bổ vào xiết cổ. Tất cả được hiện mờ mờ qua màn sao nhạt nhẽo hắt xuống đất, dưới sàng cành cây ma quái.
Qua cơn, tớ dùng lưỡi lê hì hục đào đến kiệt sức mới được một hố nông choèn. Lấp đất xong, tớ nằm qua đêm bên mộ. Giờ thì không còn sợ nữa, tớ nằm ngẫm ra những câu triết lý dở hơi về sự đau xót của kiếp phù sinh. Tảng sáng, khi tớ lết về, mang theo hai chiếc ba lô và hai khẩu súng, mọi người đổ xô tới định băng cho tớ vì thấy người bê bết máu và nồng nặc mùi hôi như mùi người chết.
Một tuần sau, tớ dở ba lô Tuân, xem bức thư cuối cùng anh chưa kịp gửi. Tớ chép đi chép lại thư này để bắt chước nét chữ và cho giọng điệu tiểu thuyết ngọt ngào mơ mộng ăn sâu vào đầu. Vài tháng sau, khi đã nhập vai, tớ gửi thư cho em Tâm theo địa chỉ có sẵn trong cuốn sổ Tuân. Bì thư hai lớp. Lớp trong đề "Thương gửi em Nguyễn Thị Tâm". Lớp ngoài đề: "Gửi chị Thanh Văn - Báo Phụ nữ - 47 - Hàng Chuối - Hà Nội". Có lẽ đó là người chuyển giao thư cho em Tâm bằng những lời nói dối hợp lý nhất.
Nhìn chung, công việc này gần như là một gánh nặng, Trước đây, tớ tưởng rằng những câu chuyện ấy chỉ đọc thấy trong sách vở. Lúc ấy có ngờ đâu rằng, sau này, mình lại là nhân vật chính trong câu chuyện huyền hoặc như vậy. Xưa nay, tớ vốn là thằng lười viết thư nên đánh vật với những bức thư kiểu này toát cả mồ hôi. Nhưng tớ nhớ ánh mắt cầu khẩn trong cơn hấp hối của Tuân và thấy ham sống hơn bao giờ hết.
Đến lá thư thứ mười một, chiến tranh chấm dứt. Tớ trở ra Hà Nội, lần đến nhà Tuân, chuyển di vật của người đã khuất. Trông thấy em Tâm, điều đầu tiên là tớ thầm oán trời đất sao nỡ thổi vào cái vỏ tật nguyền ấy một lương tri. Từ đó, thỉnh thoảng tớ ghé qua nhà Tâm.
Những lá thư vẫn được gửi đi. Hình ảnh cô bé đáng thương cứ lặng lẽ hiện lên trên mặt giấy. Tớ nghĩ đến hình chàng Trương Chi xưa thấp thoáng trong đáy chén bạch đàn. Từ lúc nào không biết, tớ trở thành hai. Một tớ trong tiểu thuyết tình lãng mạn, đóng vai chàng trai ẩn danh viết thư cho cô bé tật nguyền những lời văn như cóp từ những cuốn tiểu thuyết tình ba xu, về một tình yêu mơ mộng không bao giờ đạt tới. Một tớ gần như yêu cô gái vô hình tên Tâm. Nàng ẩn hiện chơi vơi, mặt bị che khuất sau màn voan trắng. Chấp chới trên nền đó chỉ là đôi mắt mở như rưng rưng và cánh môi dưới thắm nồng nũng nịu. Nàng như sương, như mật, như Đức Mẹ.
Thế là tớ đã ôm ấp một tình yêu không thật. Kẻ đi gieo ảo ảnh cho người khác nay lại tự ấp ủ lấy một ảo ảnh cho mình. Rồi công việc cứ cuốn đi. Hết luận án phó tiến sĩ lại đến tiến sĩ. Các cuộc hội thảo... Mà không biết rằng bao nhiêu nước đã chảy qua cầu. Và lẽ ra đã kịp lấy một cô vợ đẹp, nếu như không luôn cảm thấy bên cạnh ảo ảnh đó, bất cứ cô gái nào cũng trở nên dung tục..."
Huân đưa tay vuốt tóc. Một sợi bạc vô tình giắt vào kẽ tay. Anh nhìn nó giây lâu, chợt ứa nước mắt:
- Thế mà nay tớ cũng sắp chết. Cũng vắn số như anh trai Tâm. Có may hơn chăng là có nhiều thời gian để tìm người thay thế... Tìm người có đủ lòng tốt để kéo dài một công việc khá kỳ quặc, nhẫn nại thêu dệt những cuộc tình mơ mộng không để cho mình. Điều đó gần như việc làm của một nhà văn và của một người điên. Người đó, phải là cậu.
Tôi hoảng hốt:
-Tại sao? Tớ đã có vợ. Bất tiện lắm!
-Không cãi. Chọn cậu, vì cậu từng là lính. Cuộc chiến vừa qua đã biến chúng ta thành những người kỳ lạ, có thể là quái nhân so với lối suy diễn thông tục hiện thời. Hơi trái tự nhiên và khó tin... Song đó là điều có thật. Và đó sẽ là điểm sáng nhất trong câu chuyện cổ buồn thảm mà đời sau kể về cuộc chiến này.
- Nhưng...
- Thôi đi! Đây là yêu cầu của một người sắp chết.
Anh thui thủi đứng lên, không cho tôi tiễn,
Và đêm ấy, tôi không ngờ cả cuộc chiến tranh lại tái hiện trong tôi qua giấc mơ ngắn ngủi. Cả một đất nước rùng rùng ra trận, chân đi dép lốp, tay cầm súng, ngực đeo những lá thư. Những trang văn nói về thư, bay cùng những lá thư thất lạc và không thất lạc, có người nhận và không có người nhận cứ bay đầy trời như lá rụng. Và trong đó tôi thấy rất rõ tôi, vàng bủng, đang chạy, đưa một phong thư lên miệng mút mút và hô "xung phong" trước khi ngã xuống.
*
Những ngày tiếp theo Huân võ vàng tiều tụy và xọp đi nhanh như một trái cây héo. Tôi thường bắt gặp anh nằm trên giường ôm bụng lăn lộn, miệng thổ ra máu. Lúc được yên ổn một chút, anh thường đọc đi đọc lại lá thư của em Tâm.
Một ngày nắng đẹp nhất, ngày không ai nỡ nghĩ đến cái chết. Thế mà Huân chết. Tôi đẩy cửa vào, anh đã nằm như ngủ trên giường. Mấy dòng nguệch ngoạc này có lẽ anh dành cho tôi:
"Thời sinh viên, hai đứa đã đọc cho nhau nghe "Chiếc lá cuối cùng"[2].
Có hiểu "chiếc lá cuối cùng" đối với người sắp chết là thế nào không? Tớ không có chiếc lá đó.
Hãy đặt trên bậu cửa nhà em Tâm "chiếc lá cuối cùng".
Vĩnh biệt".
Tôi mụ mị ra đường, vẫy một chiếc xích lô đi báo tang.
Phố phường đặc ngầu tiếng chửi thề văng tục. Ngã tư xôn xao: Một tên cướp vừa giật chiếc hoa tai hai chỉ của người đàn bà áo trắng. Máu loang lổ bả vai. Tưởng rằng chỉ trong chiến tranh mới có máu?
Cổng toà án. Một cụ già vừa bị thua kiện, mất nhà. Cụ ngồi bệt bên lề đường, tay ôm mặt: "Công lý ôi! Cứu tui! Công lý đâu rồi?". Cách đó không xa, một người đàn ông hồng hào liếc xéo sang, kín đáo cười khẩy trước khi chui hẳn vào chiếc ô tô sang trọng, phóng vút, để lại phía sau một cuộn bụi.
Trong dòng đó, ngày mai, sẽ có chiếc xe tang của Huân hoà vào dòng người mê sảng nặng mùi tục luỵ.
*
Đám tang Huân. Tôi không trông thấy Tâm. Nhưng khi đám người theo xe tang về hết, tôi ngoái lại. Hình như có bóng chim sâu chon von thấp thoáng sau bia mộ, giữa làn khói nhang quặn quẹo. Tôi đồ rằng đó là ảo ảnh.
*
Đến lượt tôi vụng trộm viết thư cho em Tâm thay Huân. Phần lớn tôi viết ở cơ quan, lẫn trong đống giấy tờ bề bộn. Tôi rất sợ bị ai bắt gặp. Tôi cũng thường ngồi một mình trong nhà hàng "Hương Đêm" để ngắm dáng em xê dịch chậm chạp trên đường vào những buổi chiều tà, lòng se buồn.
Tôi đã có vợ. Tôi yêu nàng. Có lẽ vì thế, tôi viết thư khá khó khăn và ít hơi hướng của linh hồn sống. Lúc bận bịu hay lười biếng chưa kịp viết, ban đêm, khi đang ôm tấm thân yêu kiều của nàng trong tay, tôi thường thấy treo trên không trung bốn con mắt hình chiếc lá. Hai trong bốn chiếc lá lấp láy nhìn tôi. Hai chiếc còn lại thõng xuống im lìm và máu từng giọt, từng giọt một dâng lên ngập tròng hai chiếc lá. Tôi vùng dậy, đỡ lấy trái tim đập nặng nhọc trong lồng ngực.
Vợ tôi thấy vẻ thảng thốt, đã bắt đầu ngờ vực tôi chán hàng và yêu dấu tình nhân. Nàng thường tìm cớ dỗi hờn.
Tôi buồn, nên càng hay đến quán cà phê.
Tuần nay, chờ đã mấy chiều mà không thấy bóng em đi tới. Cái chấm nhỏ xíu hình xoan ấy.
Tôi tìm đến nhà em theo địa chỉ Huân để lại.
Bố em đi khập khững trong nhà như một bóng ma. Em nằm trên giường đặt cạnh cửa sổ tầng trệt. Gò má xanh nổi rõ những mạch máu nhỏ li ti.
Tôi cố tình làm ra vẻ một khách qua đường. Nhưng em đã cất đầu lên nhìn tôi, nói yếu ớt:
- Em biết anh vẫn thường gửi thư cho em - những bức thư ba lần thay chữ. Em đã nghi ngờ và để ý anh từ mấy tháng nay. Anh là Hoàng. Thường ngồi quán cà phê "Hương Đêm". Em thấy thư chữ lạ, bắt nọn chị Văn... và đã rõ...
Mắt em dâng đầy nước. Nhưng nước chỉ sóng sánh không tràn khỏi bờ mi:
- Những năm qua, các anh là cánh tay chìa ra cho một kẻ sắp chìm. Nhưng khi anh Huân chết, cô bé yêu Rôchetxtơ cũng đã bỏ đi. Em đã qua thời có thể còn tự dối mình rằng sau vỏ trứng có một hoàng tử nhỏ xíu. Đã đến lúc phải trở thành một người đàn bà... Thật khó chịu đựng...
Tôi toan ngắt lời. Nhưng em đã đặt ngón tay nhỏ như tay trẻ con lên môi tôi:
- Đừng lo! Em không chết nổi đâu. Sẽ cố. Nỡ nào cướp công các anh... – Em nghẹn ngào tiếp:
- Nhưng anh đừng viết thư nữa nhé. Chỉ xin anh thỉnh thoảng ghé thăm. Thế giới của các anh quá rộng lớn. Còn thế giới của em thì nhỏ bé. Em phải trở về thế giới của chính mình.
Phía chân trời có thể có một chú lùn. Nếu có, chú sinh ra là để cho em. Chú sẽ đến, cười bằng cái miệng rộng: "Cô bé xấu xí đợi anh lâu lắm rồi phải không?"
Tôi bỏ chạy ra đường, vội đeo kính râm vào để mọi người không nhìn thấy mắt đỏ.
Tôi đến mộ Huân. Nhớ câu hát anh thường vu vơ trên môi
"Ru em
mệt lả cơn đau Ru em
về giữa chiêm bao
Ru em. Ru em - gầy yếu hư hao..."
Và trên mộ, gió lắt lay thổi qua đám hoa lưu ly ai trồng:
"Ru...u...u"..
Đồ Sơn tháng 6-1992
V.T.H.
(In trong "Biển cứu rỗi", tập truyện ngắn Võ Thị Hảo, NXB Hà Nội)
[1] Nhân vật chính trong tiểu thuyết Jên Erơ của Sác-lôt Brônti.
==================================================
MÁU CỦA LÁ
Truyện ngắn của Phạm Minh Phong
Đã quá nhiều người tôi quen đi vào cõi vĩnh hằng vì ung thư. Trộm nghĩ đến những đến những con sâu nhỏ màu xanh đang quằn quại giãy chết trong rừng chất độc dioxin hay dưới bình phun vô-pha-tốc mà ruột gan quặn thắt buồn nôn. Con người hơn gì những con sâu đó?
Quằn quân đẹp quá! Bốn muowi hai tuổi, khuôn mặt với nước da hơi tái viền bộ râu quai nón ửng xanh, đôi mắt sâu thẳm đen láy như thấu hiểu tất cả. Tiến sĩ y khoa. Chưa vợ. Và ung thư dạ dày di căn.
Không dám nhìn Quân, tôi hướng vào cành lá thiên tuế đang thấp dần về phía đất trong chậu cảnh. Thiên tuế nhọc nhằn lắm mới ra nổi một lá.
Đang rủa thầm sao bệnh viện lại nỡ để cho con bệnh biết mình sắp chết mà quên rằng chính Quân là một trong những thầy thuốc giỏi của viện.
Quân mỉn cười nhìn tôi vẻ bất cần:
-Với tớ tất cả đã rõ ràng. Gọi cậu đến không phải để than vãn. Vài tháng nay, tớ đã cố dọ dẫm đồng hành với thần chết.
Nhấp ngụm chè sen, Quân ngửa cố nuốt từ từ như thể cố nghiệm ra điều gì đó bâng quơ:
- Cậu có biết trẻ con sợ ma chúng biểu hiện thế nào cho qua cơn sợ hãi? Đầu tiên nhắm chặt mắt lại, gào lên, gào chán bắt đầu mở he hé...nhắm tít rồi lại mở ra...Cố mở to dần và cuối cùng mở hẳn. Tớ cũng vậy, cơn hoảng loạn qua rồi. Chết trẻ thế này có lẽ lại hay, được nhiều người tiếc. Cậu đi đưa đám ma tớ chứ?
Quân lại cười nhạt. Nhưng mắt rưng rưng nhìn lên bầu trời xanh ngắt.
Tôi quay đi, lau vội nước mắt làm nhoè kính. Rồi đây nắp quan tài sẽ ập xuống dưới sức nện của chiếc búa đinh. Có lẽ nó sẽ nghẹn lại khi phải nuốt chửng một người đàn ông tuấn tú như anh!
Bỗng Quân bật dậy, căng mắt nhìn ra.
-Cậu có thấy không? Kìa, cô ấy đấy....Mình gọi cậu đến đây là vì việc này....
Phút chốc, vẻ đau đớn của con báo bị trọng thương biến mất. Đôi hàng mi anh lưng chừng khép và hơi run rẩy. Chỉ khi chờ người yêu hay một điều gì linh thiêng lắm người ta mới có được vẻ xao xuyến ấy.
Tôi nhìn theo hướng Quân nhìn, tưởng đến bóng yêu kiều của một thiếu nữ sẽ hiện ra đầu con đường nắng nhợt. Vài giây sau một chấm nhỏ hình xoan thoáng hiện. Cô xê dịch chậm chạp trên lề đường đối diện tiến đến gần.
Đó là một cô gái nhỏ xíu chỉ cao khoảng hơn một mét. Ngực lép. Đôi mắt tròn mở rưng rưng, làn môi trên hằn một vết sẹo trắng kéo miệng hơi xệch về bên trái. Chắc là sẹo vá môi, tô đồ vậy. Ngược với môi trên, môi dưới cô mọng đỏ hơi lõm giữa như lúm đồng tiền nhỏ thoáng qua, chia thành đôi cánh hoa tươi nũng nịu. Chiếc làn trên tay cô là thứ làn đi chợ các bà nội trợ thường dùng từ những năm sáu mươi. Dáng đi khập khiễng của cô khiến người ta dễ liên tưởng đến bóng con chim sâu đang nhảy chon von trên đường, mỏ quắp chiếc lá làm lệch người. Chợt bóng cô khuất sau dãy tường gấp khúc. Tôi ngóng ra xa. Người mà Quân chờ hẳn là một người đẹp, tôi nghĩ thế. Bỗng Quân rút từ trong túi ra một bì thư, mở đưa cho tôi:
- Này, nhìn đâu thế? Xem đi. Cậu đọc qua rồi sẽ hiểu.
Ngoài bì thư đề "Gửi anh M", nét chữ không đều đặn, hẳn người viết là người mơ mộng.
Tôi thoáng giật mình:
- Cậu đọc trộm thư ai vậy?
- Của tớ, thư tình đấy! Đã bảo cứ đọc đi rồi sẽ biết.
Trang giấy lấm tấm xanh, những đoạn nhạt màu có lẽ do nước mắt.
"Anh yêu!
Bẵng đi bốn tháng ròng không nhận được thư anh. Dường như em sắp chết. Chị Huyền em bảo thư thất lạc là thường, nhưng em vẫn lo anh tan ra như một làn khói!
Anh ơi! Thượng Đế đã say rượu khi nặn ra em. Hồi mười ba tuổi em suýt uống cạn bát nước lá Trúc Đào. Đó là lần đầu tiên em nhìn thấy bản thân mình hiện mồm một lên tấm gương lớn bố mới mua về. Bố em nói, em đã nhồi quá nhiều tiểu thuyết vào đầu, như thế không tốt. Không những thếm em là một tác phẩm làm hổ danh người. Mỗi lúc khách khứa đến nhà em thường tìm cách lánh mặt để làm vừa lòng bố. Rồi lúc thi vào đại học đạt điểm ưu nhưng không một trường nào nhận vì lỗi hình thể. Em đã cầu cho mình hoá điên. Người điên hạnh phúc vì họ luôn trôi mông lung trong thế giới huyền ảo, Và tất cả như đều là những con búp bê dễ thương trong vòng tay họ. Họ chẳng nhận ra cả chính mình. Thường thường dem chắp tay cầu cho mình được chết - Người chết là người có được hạnh phúc thứ hai sau người điên. Tại sao Thượng Đế nỡ đặt bộ óc vào đầu một đứa con gái mà ngài đã nặn ra trong cơn say?
Thế là em ở nhà với bếp núc, những con mèo và một gian nhà tiểu thuyết sưu tầm được. Người yêu đầu tiên của em là ông Rôchetxtơ trong bộ Jên Êrơ. Đêm đêm, đôi khi em thấy Rôchetxtơ cúi xuống mỉm cười mở vạt áo choàng sẫm màu nhẹ nhàng nhốt em vào và đi ra ngoài trời trăng. Nhưng em chợt nhận ra ông quá to lớn so với khổ người của mình. Em rụt đầu. Như thấu hiểu mọi lẽ Rôchetxtơ dừng lại, ông nhìn em thương hại, nói: "Này cô bé xấu xí yêu quý, em muốn ta nhỏ lại phải không>" Em gật đầu hàm ơn! Nhưng có tiếng máy bay sầm sập. Tiếng còi báo động. Bom xé. Nhà đổ. Trẻ khóc...Rôchetxtơ đặt em xuống lao vào lửa. Hồi sau, khi những con Diều Hâu thép thoả cơn tàn khốc bỏ đi, lửa tắt, người ta khiêng ông ra, đôi mắt chỉ còn là hai hố trống đen thui. Rôchetxtơ đã chết! "ngay cả trong mơ trời cũng cắt xén của em. Thượng Đế không cho em hưởng trọn giấc mơ nào". Em khóc với anh Hưng em. Anh Hưng lặng lẽ vuốt tóc em. Những trò chơi trẻ con mà anh ấy miệt mài bày đặt làm cho em vui không còn, kể từ ngày anh ấy đi chiến trường B
Một tháng sau em nhận được bức thư của người con trai ký tên "M". Thư anh? NHiều khi em tự hỏi, anh thật hay chỉ là hư ảo, tại sao anh giấu tên và cả một bức ảnh chân dung em cũng không được nhận? Em muốn tìm anh, Sẽ được nếu em cố tình, Nhưng em lại sợ, dù chỉ một lần thôi em tìm gặp thì những lá thư sẽ không bao giờ đến với em nữa, như lời anh đã viết. Vì thế, chính em cũng sợ phải gặp anh. Em tự dặn mình hãy bằng lòng với những trang thư. Ba năm nay em đeo lá thư đầu tiên của anh trước ngực, trong chiếc túi nhỏ sau lần áo lót....
Anh ơi! Có biết em còn muốn tự dối lòng mình hơn nữa, để không nghĩ đến một ngày sẽ chẳng còn thư. Nghĩa là chẳng còn anh và thế là cũng chẳng còn em trên cõi đời này!
Giấy báo tử của anh Hưng - Người yêu quý em nhất trên đời. Rồi bặt thư anh. Em đã nói dường như em sắp chết. Mẹ nhận được tin anh Hưng, xuất huyết não nằm liệt giường, cả ngày mở mắt chong chong thảng thốt nhìn em cười như nhìn một người xa lạ ngoài hành tinh. Bố bị huyết áp biến chứng đi lại nhiều khi phải nhờ em dìu, Chị Huyền em vừa gặp một sở khanh. Em cho rằng những người tốt thường không gặp may? Vì thế em lo cho anh. Cuối cùng Bồ Tát cũng rủ lòng từ bi trước lời khẩn cầu, sau anh Hưng hy sinh bốn tháng em lại nhận được thư anh mặc dù giọng điệu và nét chữ hơi khác. Anh bảo vừa bị thương khi làm công tác bí mật nên không viết thư được. Em cũng mong là như vậy, thế giới ngoài kia toàn là bí mật và điều bí mật lớn nhất đốivới em là anh.
Anh ơi! Em vẫn còn sống chừng nào còn thư anh...."
lá thư dài như trong tiểu thuyết và cuốn hút như có ma lực. Hơn cả những dòng chữ là một vẻ thiêng, tôi rụt tay về rồi lại chạm nhẹ mấy đầu ngón lên trang giấy nghĩ đến một thánh đường màu trắng, Trên đó, một trái tim nhỏ xíu đang thoi thóp đập.
-Thư cô đấy đây ư?
-Phải
-Lẽ nào cậu....Cậu yêu cô ấy?
-Không yêu. Không đời nào. Nhưng....
-Thế...tại sao?
Cậu đoán được tớ là tác giả của những bức thư gửi cho cô ấy! Đúng không? Nhưng chỉ đúng một nửa...
Quân ngả người sát chiếc lá thiên tuế vừa đổ xuống uốn cong thanh hình chiếc lược vàng, mơ màng kể cho tôi nghe câu chuyện rất khó tin mà xưa nay tôi tưởng chỉ gặp trong tiểu thuyết lãng mạn.
" Đã hơn mười năm trôi qua mà mỗi lần nhớ lại, ruọt gan tớ như bị ai đó nắm chặt lấy, xoắn tít...
Năm 1974 tớ ở chiến trường Buôn Mê Thuột, cùng đơn vị với Hưng. Hưng là hoạ sĩ nhập ngũ trước.Cả ngày cậu ta chỉ nói vài câu, mắt cứ lưo mơ buồn, đêm đêm thường trùm chăn viết thư dưới ánh đèn pin lập loè lúc tắt lúc bật như ma trơi. Đồn rằng cậu ta có người yêu đẹp ở Hà Nội, sợ mất nên cứ phải giữu bằng thư. Cậu từng là lính biết rồi đấy, trong chiến tranh người ta thường buộc mình vào người khác. Tự bóp nát tim hòng che giấy những tình cảm tự do nhật và hy vọng, nhờ thế khả dĩ chịu đựng được những hoàn cảnh quái gở. Cho nên, dù Hưng gan lì trong các trận đánh vẫn bị liệt vào hàng có dấu hiệu yếu đuối. cần kèm sát để phòng đảo ngũ.
Trận ấy tớ đi bên Hưng. Tiếng súng đã thưa thớt. Chiều sậm tấi buồn đứt ruột, đã kết thúc một trận đánh mà cả hai bên dần như chỉ vờn nhau để thăm dò. Tớ vốn là lính mới nên đi lại trong rừng quá chật vật, cứ tụt lại đằng sau. Hưng dừng lại chờ. Không lê nổi chân nữa, tớ ngồi xuống một tảng đá.
-Khát khô cả họng. Đứt hơi mất Hưng ạ!
Hưng nhìn quanh, đá cũng nẫu buồn ong ong. Những thân cây trút lá nâu sẫm đan chằng chịt như mê trận của quỷ sứ. Không tìm đâu ra nước. Hưng cúi xuống, dò dẫm trên dòng suối khô nứt nẻ. Hồi sau, anh khẽ reo sung sướng vồ lấy một vật bẩn bẩn tròn tròn bằng đầu ngón chân cái đưa cho tớ.
-Đập ra rồi mút đi. Đỡ khát đấy!
Tớ ghê tởm nhìn, mặc dù cổ họng như đang bị cào xé. Hưng đón lấy khéo léo đập tan. Lòng bàn tay anh lầy nhầy một thứ đen mông mốc. Nhìn kỹ, hoá ra một cái ruột ốc còn cựa quậy.
- Có lẽ đây là chú ốc duy nhất còn sót lại của rừng này, số cậu may thật. Nuốt đi! Hưng nghiêm nét mặt nhìn tớ thương cảm. Oẹ khan mấy tiếng, nhưng khát quá tớ nhắm mắt đón lấy vật bẩn thỉu đó cho vào mồm nuốt chửng rồi lấy tay bưng kín miệng, nước mắt nước mũi trào ra. Cùng với cảm giác ghê ghê tanh nồng là cơn dịu mát lan toả từ đầu lưỡi đến dạ dày khiến tớ tỉnh hẳn. Mở mắt ra, tớ thấy "Quả táo Adam: nơi cổ Hưng giật giật mấy hồi có vẻ thèm thuồng. Hoá ra anh còn khát hơn cả tớ.
-Sâm của Trường Sơn đấy. Đừng ghê!
Tớ nhăn mặt khổ sở nhìn anh hàm ơn! cả hai cùng phá lên cười. Mặt Hưng sáng ngời như trẻ thơ. ANh nhặt bên chân một quả trứng nhỏ trắng xanh tung sang:
- Trứng rắn đấy. Hồi bé mình và cái Cúc - Tên em gái Hưng- bị một phen hú vía. Nhặt được quả trứng như thế này, hai anh em thay nhau ấp trong tủ quần áo. Cái Cúc cứ đinh ninh là trứng Tiên.
Đủ tháng đủ ngày nở ra một con vật loằng ngoằng đánh võng trong tủ....
Bỗng một tiếng "bục" khẽ. Hưng đưa tay ôm ngực và cứ thế thấp dần không một tiếng kêu, gục xuống. Khoảng trắng của bàn tay anh bị nuốt dần thành quầng máu sủi bọt, im lặng đến rùng rợn.
Tớ kinh hoàng thét lên bỏ chạy. Được vài mươi bước vấp dúi dụi vào một bụi cây mới sực tỉnh, hộc tốc chạy trở lại, ào tới đỡ Hưng lên tay rối rít lau gọi...Một lát, Hưng mới khó nhọc mở mắt. Cơn đau làm nước mắt trào ra, nhểu xuống ướt đẫm cả chân tóc.
- Mình thấy nóng rẫy trong nực. Chết mất!
Tớ băng cho Hưng nhưng máu cứ lâm li thấm ướt hết lần băng này đến lần băng khác. Một viên đạn lạc đã găm vào bả vai anh. Tớ chỉ còn biết đặt anh lên đùi lật đật làm động tác vuốt nửa ngực lành còn lại trong vô vọng. Máu vẫn rỉ rả chảy xuống đùi, thoáng chốc tớ đã ngồi trong vũng máu.
Những lời cuối cùng, Hưng chỉ kể về cô em gái tật nguyền tên Cúc. Khi đó mới biết những đêm anh cặm cụi viết thư trong ánh đèn ma trơi ấy là viết cho em Cúc.
- Mình chết!...Thiếu thư....Con bé sẽ chết mất! Ngày ấy, mình giằng bát nước lá Trúc Đào trên tay nó....Rồi nghĩ ra những bức thư của chàng trai ẩn danh và nó đã tin. Chắc nó muốn tin, nó đã nhồi vào đầu biết bao điều phi lí...Nó đang tự dối lòng, nhưng biết làm sao? Mắt con bé rưng rưng. Nó cần những lời yêu đương ngọt ngào như cần nước...Bây giờ....chàng trai ẩn danh ấy là mình...chết. Những bức thư...chết và em gấi mình....!
Mắt Hưng lạc đi trong cơn đau. Anh oằn người, cào nằm đất lẫn sỏi bỏ vào miệng. Một viên sỏi vỡ "cóc" nghe khô khốc lạnh người giữa hai hàm răng nghiến chặt. Anh ngước lên nhìn tớ, ánh mắt cầu khẩn, miệng mấp máy toan nói nhưng cổ anh đã ngật ra. Cái nhìn đau đáu tạc lại trên khuôn mặt trắng nhợt tựa như thạch cao...
Cậu có tin khônhg? Tớ gào lên, lu loa như mụ đàn bà xúi quẩy ngoài chợ, Một mình trong rừng với cái xác trên đùi, thân cây đen ngòm như những bộ xương sắp nhảy bổ vào xiết cổ. Tất cả được hiện mờ mờ dưới ánh trăng non nhạt nhẽo hắt xuống đất qua sàng cành cây ma quái. Qua sơn, tớ dùng lưỡi lê hì hục đào đất đến kiệt sức mới được một cái hố nông choèn. Lấp đất xong và nằm qua đêm bên mộ, khi ấy không còn sợ nữa. Tớ nằm ngẫm ra những câu triết lý dở hơi về sự đau xót của kiếp phù sinh. Tảng sáng tớ lết về với hai chiếc ba lô và hai khẩu súng, mọi người đổ xô tới định băng bó vì thất người tớ bê bết máu và nồng nặc mùi người chết. Một tuần sau, tớ dở ba lô Hưng xem bức thư cuối cùng anh chưa kịp gửi cho Cúc, bì thư hai lớp. Lớp trong đề "Thương gửi em Kim Cúc". Lớp ngoài đề: "Gửi chị Thanh Huyền - Báo Phụ nữ - 47 - Hàng Chuối - Hà Nội". Có lẽ đó là người chuyển thư cho em Cúc bằng những lời nói dối hợp lý nhất. Tớ chép đi chép lại thư này để bắt chước nét chữ và giọng điệu văn chương ngọt ngào mơ mộng ăn sâu vào đầu. Vài tháng sau, khi đã nhập tâm, tớ bắt đầu sắm vài người con trai mang danh "M" gửi thư cho em Cúc.
Nhìn chung, gần như là một gánh nặng, Trước đây tớ tưởng chừng những câu chuyện đại loại như thế này chỉ đọc được trong sách vửo. Có ngờ đâu rằng, sau này mình lại là nhân vật chính trong câu chuyện tưởng huyền hoặc như vậy. Xưa nay tớ vốn là thằng lười học văn và viết thư nên đánh vật với những con chữ kiểu thế toát cả mồ hôi. Nhưng luôn nhớ đến ánh mắt cầu khẩn trong cơn hấp hối của Hưng và thấy ham sống hơn bao giờ hết. Đến lá thư thứ muời ba, chiến tranh kết thcú, tớ trở ra Hà Nội, lần đến nhà Hưng chuyển di vật của người đã khuất. Trông thấy em Cúc, điều đầu tiên là tớ thầm oán trời đất sao nỡ thổ vào cái vỏ tật nguyền một lương tri, một tâm hồn thật lãng mạn? Từ đó, thi thoảng tớ ghé qua nhà Hưng với tư cách là đồng đội của anh trai Cúc.
Những lá thư vẫn được gửi đi. Hình ảnh cô bé đáng thương cứ lặng lẽ hiện lên trang giấy. Tớ liên tường đến hình bóng chàng Trương Chi xưa thấp thoáng trong đáy chén bạch đằng. Từ lúc nào không biết, tớ trở thành hai. Một tớ trong tiểu thuyết tình lãng mạn đóng vai chàng trai ẩn danh viết thư cho cô bé tật nguyền những lời văn cóp từ những cuốn tiểu thuyết tình ba xu, về một tình yêu mơ mông không bao giờ có kết cục. Một tớ gần như yêu cô gái vô hình tên Cúc. Nàng ẩn hiện chơi vơi mặt che khuất bởi một màn voan trắng, chấp chới trên viền là đôi mắt mơ màng mở rưng rưng và bên trong là đôi cánh môi dưới thắm nồng nũng nịu. Nàng như sương như mật, như Đức Mẹ!
Thế là tớ ôm ấp một tình yêu không thật. Nực cười làm sao, kẻ đi gieo ảo ảnh cho người khác lại tự ấp ủ ảo ảnh ấy cho chính mình. Rồi công việc cứ cuốn đi, hết luận án phó tiến sĩ đến tiến sĩ, những ca bệnh hối hả, các cuộc hội chẩn, hội thảo liên miên...Không biết bao nhiêu nước đã chảy qua cầu. Và lẽ ra tớ đã kịp cưới một cô vợ đẹp nếu không luôn luôn cảm thấy bên cạnh ảnh ảo kia, bất cứ cô gái nào cũng trở nên dung tục dẫu biết mọi sự so sánh đều khập khiễng...."
Quân đưa tay vuốt máu tóc muối tiêu, một sợi bạc vô tình giắt vào kẽ tay, Anh nhìn nó giây lâu chợt ứa nước mắt.
- Thế mà nay tớ cũng sắp chết, cũng vắn số như anh trai Cúc. May chăng là có nhiều thời gian hơn để tìm người thay thế, tìm người có đủ lương tri để kéo dài một công việc kỳ dị, nhẫn nại thêu dệt cuộc tình mơ mộng không để cho mình. Việc đó gần như việc làm của một nhà văn và một người điên. Người đó không ai khác chính là cậu.
Tôi hoảng hốt!
-Tại sao? Tớ đã có vợ. Bất tiện lắm!
-Không cãi. Quân lạnh lùng, Chọn cậu vì cậu từng là một người lính. Cuộc chiến vừa qua đã biến chúng ra thành những người kỳ lạ, có thể là quái dị so với lối suy diễn thông tục hiện thời, hơi trái với tự nhiên và khó tin...Song đó là sự thật và sẽ là một trong những điểm sáng của những câu chuyện cổ buồn mà đời sau kể về cuộc chiến vĩ đại vừa qua của những người lính.
- Nhưng...
- Thôi đi! Không nhưng nhị gì hết. Đây là lời khẩn cầu của một người sắp chết! Cậu hiểu không?
Quân thui thủi đứng lên không cho tôi tiễn, Và tôi không ngở cả cuộc chiến tranh lại thường tái hiện trong tôi qua những giấc mơ. Cả đất nước rùng rùng ra trận, chân đi dép lốp, tay cầm súng, ngực đeo những lá thư, những trang văn, trang thơ bay cùng những lá thư thất lạc và không thất lạc, có người nhận và không có người nhận, Tất cả cứ bay đầy trời, nhiều hơn cả sao, cả lá rụng. Trong đó tôi thấy mình rất rõ, Vàng bựng, đang chạy, đưa một phong thư ngậm lên miệng trước khi ngã xuống.
Những ngày tiếp sau Quânvàng võ tiều tuỵ, xẹp nhanh như một trái cây héo. Tôi thường bắt gặp anh nằm trên giường ôm bụng lăn lộn, miệng thở ra máu tươi. Lúc được yên ổn một chút anh đọc đi đọc lại những lá thư gửi cho em Cúc.
Một ngày nắng đẹp, gió heo may và hoa cúc ngập tràn phố phường, ngày không ai nỡ nghĩ đến cái chết. Thế mà Quân ra đi. Tôi đẩy cửa bước vào thăm anh như thường lệ. Quân đã nằm như ngủ trên giường, cánh cửa chớp nhìn ra đường được kéo lên, nắng hắt hiu chiếu vào xác người đàn ông vạm vỡ xấu số. Quân đã chết! Một cái chết được biết và chuẩn bị trước. Mấy dòng nguệch ngoạc trong cuốn vở mở sẵn trên bàn có lẽ anh giành cho tôi.
"Thời sinh viên hai đứa thường đọc cho nhau nghe Chiếc lá cuối cùng. Có hiểu Chiếc lá cuối cùng đối với người sắp chết có ý nghĩa thế nào không? Tớ không có chiếc lá đó Tú ạ.
Hãy đặt trên bậu cửa nhà em Cúc Chiếc lá cuối cùng Tú nhé!
Vĩnh biệt bạn thân yêu!"
Tôi mụ mị ra đường, vẫy một chiếc xích lô đi báo tang. Phố phường đặc ngầu tiếng chửi thề. Ngã tư xôn xao, chợ ven đường nhốn nháo: Một tên cướp vừa giật chiếc hoa tai của người đàn bà áo trắng, máu loang lổ cả bờ vai. Tưởng rằng chỉ trong chiến tranh mới có máu? Cổng toà án, một cụ già có lẽ thua kiện ngồi bệt bên lề đường, bưng mặt: "Công lí ơi! Cứu tôi! Công lí đâu rồi, trời có mắt không ?". Cách đó không xa, một người đàn ông hồng hào phốp pháp liếc xéo sang, kín đáo cười khẩy trước khi chui hẳn vào chiếc xe con phóng vút, vứt lại đằng sau một cuộn bụi mù mịt, Một thầy tu chân trần niệm nam mô hành khất. Trước cổng nhà thờ vị linh mục đang làm dấu rửa tôi cho mọi người. Trong dòng đó, ngày mai sẽ có chiếc xe tang của Quân hoà vào dòng người mê sảng nặng mùi tục luỵ.
Đám tang Quân tôi không trông thấy Cúc. Nhưng khi đám người theo xe tang về hết, tôi ngoái lại, hình như có một bóng chim sâu chon von thấp thoáng sau lùm lá đỏ nơi bia mộ giữa làn khói nhang quặn quẹo. Tôi cú cảm thấy cái màu đỏ lá cây ấy chập chờn và tôi đồ rằng đó là ảo ảnh.
.......................
(Đăng trên Báo Văn Nghệ số 26 ra ngày 25/6/2005)
Truyện ngắn của Võ Thị Hảo
Tớ sắp chết! Cậu biết không? Tớ đang chết dần...
Một giọng nói ngàn ngạt như vọng lên từ vực thẳm. Tôi giật mình ngó quanh. Không ai. Chỉ tôi và Huân. Anh đang nhìn tôi qua ly cà phê và chậu cây thiên tuế của nhà hàng "Hương Đêm".
Tôi cười khì:
- Cậu thì có mà cho vào cối giả cũng vẫn sống nhăn...
Những lời sắp lẩy ra bỗng rơi đâu mất. Tôi vừa bắt gặp cái nhìn trống hoang trong mắt anh. Huân chìa ra mảnh giấy nâu xỉn ghi kết quả sinh thiết của bệnh viện K.
Ung thư!
Những người tôi quen đã đi xuống mộ quá nhiều vì ung thư. Tôi nghĩ đến những đến những con sâu nhỏ màu xanh đang quằn quại giẫy chết trong chất độc dioxin màu da cam hay dưới bình phun vô-pha-tốc và ruột gan quặn thắt buồn nôn. Trước sự tàn bạo của chính mình, con người hơn gì những con sâu đó?
Huân đẹp quá! Bốn mươi hai. Khuôn mặt với nước da hơi tái được viền bởi bộ râu quai nón ửng xanh. Đôi mắt dài anh minh như thấu hiểu tất cả. Tiến sĩ y khoa. Chưa vợ. Và ung thư dạ dày.
Không dám nhìn Huân, tôi tránh trớ hướng vào cành lá thiên tuế đang úa vàng và thấp dần về đất trong chậu cảnh. Thiên tuế nhọc nhằn lắm mới ra nổi một lá.
Tôi đang rủa thầm sao bệnh viện nỡ để cho con bệnh biết mình sắp chết thì Huân đã chuyển giọng, cố làm ra vẻ bất cần:
-Với tớ, tất cả đã rõ ràng. Gọi cậu đến không phải để than vãn. Vài tháng nay, tớ đã cố dọ dẫm đồng hành với thần chết.
Cậu có biết trẻ con sợ ma, chúng làm thế nào không? Đầu tiên, nhắm chặt mắt lại, gào lên. Gào chán bắt đầu mở he hé mắt, nhắm tít, rồi lại mở ra, cố mở to dần và mở hẳn. Tớ cũng vậy, cơn hoảng loạn qua rồi. Chết trẻ thế này có lẽ lại hay, được nhiều người tiếc. Cậu đi đưa ma tớ chứ? – anh cười chua chát.
Tôi quay đi, cắn môi đến bật máu, lau vội giọt nước mắt rớt ra ngoài kính. Huân ơi! Rồi đây nắp quan tài sẽ ập xuống trong tiếng búa. Có lẽ chiếc quan tài sẽ nghẹn lại khi phải nuốt chửng một người đàn ông tuấn tú như anh!
Một cô gái bó chặt đùi trong chiếc mini juyp tím núng nính tiễn khách. Quay lại, vừa trông thấy Huân, cô õng ẹo tiến đến. Vầng trán rạng rỡ của Huân chút nữa thì cộc phải đôi đầu gối rám hồng đong đưa:
- "Tươi mát" một giây đi, anh yêu!
Tôi trừng mắt. Suýt nữa đã đập thẳng chiếc gạt tàn vào khuôn mặt đẹp trơ trẽn ấy. Có lẽ trông tôi dữ dằn lắm nên cô ta sợ hãi bỏ đi, lẩm bẩm:
- Đ... gì. Đồ mặt trắng các người bao giờ mới có nổi một xu rách! Cứ vờ cao đạo...
Huân ngửa đầu ra sau, cười, cái cười của người đã sang sông và nhìn lại chuyến đò đầy mắm tôm với cái nhìn bao dung.
Mà phải! Rồi đây anh trắng tay. Cả đến một câu chửi tục cũng không còn khả dĩ khuấy động thế giới đen ngòm mà anh sắp bước vào.
Tôi đang nghĩ lan man, Huân gọi:
- Này, tớ bảo cậu đến để nói điều khác kia...
Anh chuyển chỗ, nhìn ra đường, liếc đồng hồ rồi kéo tôi sang. Một lát, anh khẽ kêu: "Kia rồi! Nhìn đi".
Phút chốc, vẻ đau đớn của con báo bị trọng thương biến mất. Đôi hàng mi anh lưng chừng khép và hơi run rẩy. Chỉ khi chờ người yêu, người ta mới có được vẻ xao xuyến thế.
Tôi nhìn theo hướng tay anh trỏ, tưởng đến bóng yêu kiều của một thiếu nữ sẽ hiện ra đầu con đường nắng nhợt. Và khoảng dăm ba phút sau một chấm nhỏ hình xoan tiến đến gần.
Đó là cô gái nhỏ xíu chỉ cao khoảng hơn một mét. Ngực lép, đôi mắt tròn mở rưng rưng. Làn môi trên hằn một vết sẹo trắng kéo miệng hơi xệch về bên trái. Có lẽ đó là sẹo vá môi. Ngược với môi trên, môi dưới cô mọng đỏ, hơi lõm giữa như một lúm đồng tiền nhỏ xíu thoảng qua, chia thành đôi cánh hoa nũng nịu. Chiếc làn trên tay cô là thứ làn đi chợ của các bà nội trợ từ những năm sáu mươi. Dáng đi khập khiễng của cô khiến người ta nghĩ đến bóng con chim sâu đang nhẩy chon von trên đường, mỏ quắp một cành lá lệch người. Tôi nhìn rõ cô gái vì cô xê dịch rất chậm trên đường. Rồi bỏ qua cô, tôi ngóng ra xa. Người mà Huân chờ, hẳn là một người đẹp.
- Nhìn đâu thế? Nghe đây!
Huân rút từ trong túi ra một bức thư dày cộp, được bọc ngoài bằng ni lông hơng và ướp nước hoa:
Đọc đi! Đọc qua cho biết.
Ngoài bì thư đề "Gửi anh M". Nét chữ không đều đặn, chứng tỏ người viết hẳn phải là người mơ mộng.
Tôi ngạc nhiên:
- Cậu đọc trộm thư ai vậy?
- Của tớ! Thư tình người yêu! Đọc đi rồi sẽ biết.
Trang giấy lấm tấm xanh. Những đoạn nhạt màu có lẽ vì nước mắt.
"Anh yêu!
Bẵng đi bốn tháng ròng, em không nhận được chữ nào của anh. Dường như em sắp chết. Chị Văn em bảo thư thất lạc là thường. Em tưởng anh đã tan ra như một làn khói!
Anh ơi! Tạo hóa đã say rượu khi nặn ra em. Hồi mười bốn tuổi, em suýt uống cạn bát nước lá trúc đào. Đó là lần đầu tiên em nhìn thấy toàn thân mình hiện mồm một trong tấm gương lớn mà bố mới mua về.
Bố em nói, em là một con nhỏ đã nhồi quá nhiều tiểu thuyết vào đầu. Người đẹp và đĩnh đạc. Vì thế, em là một " tác phẩm" làm hổ danh người. Lúc khách đến nhà em thường kiếm cớ lánh mặt để làm người vừa lòng.
Lúc thi vào đại học đạt điểm ưu nhưng không một trường nào nhận vì lỗi hình thể, em đã cầu cho mình hoá điên - người điên sung sướng vì họ trôi mông lung trong thế giới huyền ảo và họ không nhận ra họ. Thường thường, em thắp hương khấn cầu được chết. Tại sao Thượng Đế nỡ đặt bộ óc vào đầu một đứa con mà ngài đã nặn ra trong cơn say?
Thế là em ở nhà với nồi niêu, những con mèo và đám tiểu thuyết. Người yêu đầu đời của em là ông Rôchetxtơ trong bộ "Jên Êrơ"[1].
Đêm đêm, đôi khi em thấy Rôchetxtơ cúi xuống mỉm cười. Ông mở vạt áo choàng sẫm màu, dịu dàng nhốt em vào và đi ra ngoài trời trăng.
Nhưng em chợt nhận ra, ông thật cao lớn, lớn quá so với khổ người bé tí của em. Em rụt đầu lại. Rôchetxtơ dừng lại bởi ông thấu hiểu mọi nhẽ. Ông nói:
- Này cô bé xấu xí yêu quý! em muốn ta nhỏ lại một chút, phải không>
Em gật đầu, ngước nhìn ông biết ơn. Nhưng có tiếng máy bay sầm sập. Bom xé. Nhà đổ. Trẻ khóc.
Rôchetxtơ đặt em xuống, lao vào lửa. Một lát, người ta khiêng ông ra. Hai con mắt ông chỉ còn là hai hố trống ngòm đỏ. Rôchetxtơ đã chết.
"Ngay cả trong mơ, trời cũng cắn xén của em. Trời không cho em hưởng trọn một giấc mơ nào". Em khóc với anh Tuân em.
Anh Tuân lặng lẽ vuốt tóc em. Những trò chơi trẻ con mà anh ấy thường miệt mài bày đặt làm cho em thích nay không cần nữa.
Một tháng sau, em nhận được bức thư của người con trai giấu mặt ký tên M. Thư anh.
Nhiều khi em tự hỏi: Anh thật hay chỉ là hư ảo? Tại sao anh giấu mặt? Em muốn tìm anh. Sẽ được, nếu em cố tìm, nhưng lại sợ "Dù chỉ một lần thôi em tìm biết anh thì những lá thư sẽ không bao giờ trở lại" như anh đã viết. Vì thế, chính em cũng sợ gặp anh. Thôi thì hãy bằng lòng với những lá thư. Ba năm nay, em đeo lá thư đầu tiên của anh trước ngực, trong chiếc túi lụa nhỏ sau lần áo lót.
Anh ơi! Có biết em còn muốn tự dối lừa mình hơn nữa, để không nghĩ đến một ngày sẽ chẳng còn thư, nghĩa là chẳng còn anh. Và thế chẳng còn em.
Giấy báo tử của anh Tuân - người yêu quý em nhất trên đời này. Rồi bặt thư anh. Em đã nói dường như em sắp chết. Mẹ nhận được giấy, bị xuất huyết não nằm liệt giường. Cả ngày mẹ nằm mở mắt chong chong, thảng thốt nhìn em cười như nhìn một vật lạ. Bố bị huyết áp biến chứng, đi lại nhiều khi phải nhờ em dắt. Chị Văn vừa gặp một thằng Sở Khanh. Em cho rằng những người tốt thường không gặp may. Vì thế, em lo cho anh.
Cuối cùng trời phật cũng động lòng trước lời khẩn cầu của em. Bốn tháng sau, em lại nhận được thư anh, mặc dù giọng điệu và nét chữ hơi khác. Anh bảo vừa bị điều đi làm công tác bí mật nên không được phép viết thư. Em cũng mong là như vậy. Thế giới ngoài kia đầy bí mật. Và điều bí mật lớn nhất là anh.
Anh ơi! Em vẫn còn sống, chừng nào còn thư anh..."
Lá thư dài như những trang tiểu thuyết và cuốn hút như có ma lực. Hơn cả những dòng chữ là một vẻ thiêng. Tôi rụt tay về rồi lại chạm nhẹ mấy đầu ngón tay lên trang thư. Nghĩ đến một thánh đường màu trắng, Trên đó, một trái tim nhỏ xíu đang thoi thóp đập.
-Thư cô ấy đấy ư?
-Phải!
-Lẽ nào? Cậu... Cậu yêu cô ta?
-Không yêu. Không đời nào. Tớ là kẻ duy mỹ.
-Thế...tại sao?
- Cậu đoán được rằng tớ là tác giả của những bức thư gửi cho cô ấy rồi chứ? Đúng. Nhưng chỉ đúng một nửa...
Và anh ngả người sang, dứt chiếc lá thiên tuế vừa đổ xuống, uốn cong thanh hình chiếc lược vàng, mơ màng kể cho tôi nghe câu chuyện sau, câu chuyện rất khó tin mà xưa nay tôi tưởng chỉ gặp trong tiểu thuyết:
*
"Đã mấy năm rồi, mà mỗi lần nhớ lại, ruột gan tớ như bị ai đó nắm chặt lấy, xoắn mạnh.
1974. Tớ ở chiến trường Buôn Mê, cùng đơn vị với Tuân. Tuân là hoạ sĩ, nhập ngũ năm trước. Cả ngày cậu ta chỉ nói vài câu, mắt cứ lơ mơ buồn. Đêm đêm, cậu ta thường trùm chăn viết thư dưới ánh đèn pin lúc tắt lúc bật lập loè như ma trơi. Đồn rằng cậu ta viết thư cho người yêu đẹp lắm ở Hà Nội, sợ mất nên cứ phải giữ bằng thư. Cậu từng là lính, biết rồi đấy. Trong chiến tranh, người ta quen buộc mình và người khác tự bóp nát tim, cốt che giấu những tình cảm tự nhiên nhật, hy vọng rằng vì thế khả dĩ chịu đựng được những hoàn cảnh quái gở. Vì thế cho nên, dù Tuân gan lì trong các trận đánh nhưng vẫn bị xếp vào loại có biểu hiện yếu đuối. cần kèm sát, đề phòng đảo ngũ.
Trận ấy tớ đi bên Tuân. Tiếng súng đã thưa thớt. Chiều sậm tái buồn đứt ruột. Đã kết thúc một trận đánh mà cả hai bên dần như chỉ vờn nhau để thăm dò.
Tớ vốn là lính mới tò te nên đi lại trong rừng quá chật vật, cứ rớt lại đằng sau. Tuân dừng lại chờ tớ. Không lê nổi chân nữa, tớ ngã ngồi xuống một tảng đá:
-Khát khô cả họng. Đứt hơi mất!
Tuân dừng lại, nhìn quanh. Đá cũng nâu bầm ong ong. Những thân cây trụi lá đen sẫm đan chằng chịt như mê hồn trận của quỷ sứ. Không còn tìm đâu ra nước. Tuân cúi xuống, dò dẫm trên lòng suối khô nứt nẻ. Hồi sau, anh reo lên khe khẽ, vồ lấy vật gì bẩn thỉu tròn tròn bằng đầu ngón chân cái và đưa cho tớ.
-Đập vỡ ra và mút đi. Đỡ khát đấy!
Tớ ghê tởm nhìn, mặc dù cổ họng như đang bị cào xé. Tuân đón lấy, khéo léo đập vỡ. Lòng bàn tay anh lầy nhầy một thứ đen đen mông mốc. Nhìn kỹ, hoá ra đó là một cái ruột ốc còn cựa quậy.
- Có lẽ đây là cái ruột ốc duy nhất còn sót lại của rừng này. Số cậu hên thật. Nuốt đi!
Tớ oẹ khan mấy tiếng. Nhưng cuối cùng, khát quá, tớ liều chết đón lấy vật bẩn thỉu đó cho vào mồm nuốt chửng rồi lấy tay bưng miệng, nước mắt nước mũi trào ra. Nhưng cùng với ghê tởm, có một cảm giác dịu mát lan lan đầu lưỡi khiến tớ tỉnh hẳn. Mở mắt ra, tớ thấy "Quả táo Adam" nơi cổ Tuân giật giật mấy lần có vẻ thèm thuồng. Hoá ra anh còn khát hơn cả tớ.
-Sâm của Trường Sơn đấy. Đừng ghê!
Tớ nhăn mặt khổ sở nhìn anh. Cả hai cùng phá lên cười. Mặt Tuân sáng ngời như trẻ thơ. Anh nhặt được bên chân một quả trứng nhỏ trắng xanh, tung sang:
- Trứng rắn đấy. Hồi bé mình và con Tâm - Tên em gái Tuân - bị một phen hú vía. Nhặt được quả trứng như thế này, hai anh em thay nhau ấp trong tủ quần áo. Con Tâm cứ đinh ninh đó là trứng Tiên. Đủ tháng đủ ngày, hiện ra một vật loằng ngoằng...
Bỗng một tiếng "bục" khẽ. Tuân đưa tay ôm ngực và cứ thế, thấp dần, thấp dần, không một tiếng kêu, gục xuống. Khoảng trắng của bàn tay anh cứ bị nuốt dần, thành một quầng máu sủi bọt. Im lặng rùng rợn.
Tớ kinh hoàng thét lên, bỏ chạy. Chạy được vài chục bước, tớ vấp dúi dụi vào một búi cây, lúc đó mới sực tỉnh, hộc tốc chạy trở lại, ào tới, đỡ Tuân trong tay, rối rít lay gọi...
Hồi lâu, Tuân mới khó nhọc mở mắt. Cơn đau làm nước mắt cứ nhểu xuống ướt đẫm cả chân tóc:
- Mình thấy bỏng rẫy trong ngực. Chết mất!
Tớ băng cho Tuân. Nhưng máu cứ lầm lì thấm ướt đẫm hết lần băng này đến lần băng khác - một viên đạn lạc đã găm vào dưới bả vai anh. Tớ chỉ còn biết đặt anh lên đùi, lật bật vuốt nửa ngực lành trong vô vọng. Và máu cứ rỉ rả chảy xuống đùi tớ. Chốc lát, tớ đã ngồi trong vũng máu và cảm thấy như từng giọt máu mình cũng đang hối hả rời huyết quản.
Kỳ lạ là những lời cuối cùng, Tuân không nói về anh, về cái chết như một con trăn lớn đang nhằn từng phần thân thể. Anh chỉ kể về cô em gái tật nguyền tên Tâm. Giờ mới biết, những đêm anh cặm cụi viết thư bên ánh đèn ma trơi ấy là viết cho em Tâm.
- Mình chết...Thiếu thư... con bé sẽ chết mất. Ngày ấy, mình giằng bát nước trúc đào trên tay nó... Rồi nghĩ ra những bức thư của chàng trai ẩn danh...
- Thế mà cô bé cũng tin ư? Khó tin lắm!
- Khó, nhưng tin, vì nó muốn tin. Nó đã nhồi vào đầu bao nhiêu điều phi lý...
- Nghĩa là một phần, cộ bé tự dối mình?
- Biết làm sao? Và mình sung sướng. Cậu không có em gái tàn tật, không hiểu được. Mắt con bé rưng rưng. Nó cần những lời yêu đương ngọt ngào như cần nước...
Tuân bắt đầu thở dốc:
- Bây giờ....chàng trai ẩn danh ấy... chết. Những bức thư...chết. Và cô bé... Trời ơi!
Mắt Tuân dại lạc đi trong cơn đau giẫy chết. Anh quằn người, cào một nắm đất lẫn sỏi tống vào mồm. Một viên sỏi vỡ "cóc" nghe khô rợn người giữa hai hàm răng nghiến chặt. Anh ngước lên nhìn tớ, và cầu khẩn. Miệng mấp máy toan nói. Nhưng cổ anh đã ngật ra. Cái nhìn đau đáu tạc lại trên khuôn mặt trắng nhợt như thạch cao.
Cậu có tin không? Tớ gào lên, vật vã lu loa như một mụ đàn bà ngoa ngoắt. Một mình trong rừng với xác chết trên đùi. Những thân cây đen ngòm như những bộ xương đang sắp nhảy bổ vào xiết cổ. Tất cả được hiện mờ mờ qua màn sao nhạt nhẽo hắt xuống đất, dưới sàng cành cây ma quái.
Qua cơn, tớ dùng lưỡi lê hì hục đào đến kiệt sức mới được một hố nông choèn. Lấp đất xong, tớ nằm qua đêm bên mộ. Giờ thì không còn sợ nữa, tớ nằm ngẫm ra những câu triết lý dở hơi về sự đau xót của kiếp phù sinh. Tảng sáng, khi tớ lết về, mang theo hai chiếc ba lô và hai khẩu súng, mọi người đổ xô tới định băng cho tớ vì thấy người bê bết máu và nồng nặc mùi hôi như mùi người chết.
Một tuần sau, tớ dở ba lô Tuân, xem bức thư cuối cùng anh chưa kịp gửi. Tớ chép đi chép lại thư này để bắt chước nét chữ và cho giọng điệu tiểu thuyết ngọt ngào mơ mộng ăn sâu vào đầu. Vài tháng sau, khi đã nhập vai, tớ gửi thư cho em Tâm theo địa chỉ có sẵn trong cuốn sổ Tuân. Bì thư hai lớp. Lớp trong đề "Thương gửi em Nguyễn Thị Tâm". Lớp ngoài đề: "Gửi chị Thanh Văn - Báo Phụ nữ - 47 - Hàng Chuối - Hà Nội". Có lẽ đó là người chuyển giao thư cho em Tâm bằng những lời nói dối hợp lý nhất.
Nhìn chung, công việc này gần như là một gánh nặng, Trước đây, tớ tưởng rằng những câu chuyện ấy chỉ đọc thấy trong sách vở. Lúc ấy có ngờ đâu rằng, sau này, mình lại là nhân vật chính trong câu chuyện huyền hoặc như vậy. Xưa nay, tớ vốn là thằng lười viết thư nên đánh vật với những bức thư kiểu này toát cả mồ hôi. Nhưng tớ nhớ ánh mắt cầu khẩn trong cơn hấp hối của Tuân và thấy ham sống hơn bao giờ hết.
Đến lá thư thứ mười một, chiến tranh chấm dứt. Tớ trở ra Hà Nội, lần đến nhà Tuân, chuyển di vật của người đã khuất. Trông thấy em Tâm, điều đầu tiên là tớ thầm oán trời đất sao nỡ thổi vào cái vỏ tật nguyền ấy một lương tri. Từ đó, thỉnh thoảng tớ ghé qua nhà Tâm.
Những lá thư vẫn được gửi đi. Hình ảnh cô bé đáng thương cứ lặng lẽ hiện lên trên mặt giấy. Tớ nghĩ đến hình chàng Trương Chi xưa thấp thoáng trong đáy chén bạch đàn. Từ lúc nào không biết, tớ trở thành hai. Một tớ trong tiểu thuyết tình lãng mạn, đóng vai chàng trai ẩn danh viết thư cho cô bé tật nguyền những lời văn như cóp từ những cuốn tiểu thuyết tình ba xu, về một tình yêu mơ mộng không bao giờ đạt tới. Một tớ gần như yêu cô gái vô hình tên Tâm. Nàng ẩn hiện chơi vơi, mặt bị che khuất sau màn voan trắng. Chấp chới trên nền đó chỉ là đôi mắt mở như rưng rưng và cánh môi dưới thắm nồng nũng nịu. Nàng như sương, như mật, như Đức Mẹ.
Thế là tớ đã ôm ấp một tình yêu không thật. Kẻ đi gieo ảo ảnh cho người khác nay lại tự ấp ủ lấy một ảo ảnh cho mình. Rồi công việc cứ cuốn đi. Hết luận án phó tiến sĩ lại đến tiến sĩ. Các cuộc hội thảo... Mà không biết rằng bao nhiêu nước đã chảy qua cầu. Và lẽ ra đã kịp lấy một cô vợ đẹp, nếu như không luôn cảm thấy bên cạnh ảo ảnh đó, bất cứ cô gái nào cũng trở nên dung tục..."
Huân đưa tay vuốt tóc. Một sợi bạc vô tình giắt vào kẽ tay. Anh nhìn nó giây lâu, chợt ứa nước mắt:
- Thế mà nay tớ cũng sắp chết. Cũng vắn số như anh trai Tâm. Có may hơn chăng là có nhiều thời gian để tìm người thay thế... Tìm người có đủ lòng tốt để kéo dài một công việc khá kỳ quặc, nhẫn nại thêu dệt những cuộc tình mơ mộng không để cho mình. Điều đó gần như việc làm của một nhà văn và của một người điên. Người đó, phải là cậu.
Tôi hoảng hốt:
-Tại sao? Tớ đã có vợ. Bất tiện lắm!
-Không cãi. Chọn cậu, vì cậu từng là lính. Cuộc chiến vừa qua đã biến chúng ta thành những người kỳ lạ, có thể là quái nhân so với lối suy diễn thông tục hiện thời. Hơi trái tự nhiên và khó tin... Song đó là điều có thật. Và đó sẽ là điểm sáng nhất trong câu chuyện cổ buồn thảm mà đời sau kể về cuộc chiến này.
- Nhưng...
- Thôi đi! Đây là yêu cầu của một người sắp chết.
Anh thui thủi đứng lên, không cho tôi tiễn,
Và đêm ấy, tôi không ngờ cả cuộc chiến tranh lại tái hiện trong tôi qua giấc mơ ngắn ngủi. Cả một đất nước rùng rùng ra trận, chân đi dép lốp, tay cầm súng, ngực đeo những lá thư. Những trang văn nói về thư, bay cùng những lá thư thất lạc và không thất lạc, có người nhận và không có người nhận cứ bay đầy trời như lá rụng. Và trong đó tôi thấy rất rõ tôi, vàng bủng, đang chạy, đưa một phong thư lên miệng mút mút và hô "xung phong" trước khi ngã xuống.
*
Những ngày tiếp theo Huân võ vàng tiều tụy và xọp đi nhanh như một trái cây héo. Tôi thường bắt gặp anh nằm trên giường ôm bụng lăn lộn, miệng thổ ra máu. Lúc được yên ổn một chút, anh thường đọc đi đọc lại lá thư của em Tâm.
Một ngày nắng đẹp nhất, ngày không ai nỡ nghĩ đến cái chết. Thế mà Huân chết. Tôi đẩy cửa vào, anh đã nằm như ngủ trên giường. Mấy dòng nguệch ngoạc này có lẽ anh dành cho tôi:
"Thời sinh viên, hai đứa đã đọc cho nhau nghe "Chiếc lá cuối cùng"[2].
Có hiểu "chiếc lá cuối cùng" đối với người sắp chết là thế nào không? Tớ không có chiếc lá đó.
Hãy đặt trên bậu cửa nhà em Tâm "chiếc lá cuối cùng".
Vĩnh biệt".
Tôi mụ mị ra đường, vẫy một chiếc xích lô đi báo tang.
Phố phường đặc ngầu tiếng chửi thề văng tục. Ngã tư xôn xao: Một tên cướp vừa giật chiếc hoa tai hai chỉ của người đàn bà áo trắng. Máu loang lổ bả vai. Tưởng rằng chỉ trong chiến tranh mới có máu?
Cổng toà án. Một cụ già vừa bị thua kiện, mất nhà. Cụ ngồi bệt bên lề đường, tay ôm mặt: "Công lý ôi! Cứu tui! Công lý đâu rồi?". Cách đó không xa, một người đàn ông hồng hào liếc xéo sang, kín đáo cười khẩy trước khi chui hẳn vào chiếc ô tô sang trọng, phóng vút, để lại phía sau một cuộn bụi.
Trong dòng đó, ngày mai, sẽ có chiếc xe tang của Huân hoà vào dòng người mê sảng nặng mùi tục luỵ.
*
Đám tang Huân. Tôi không trông thấy Tâm. Nhưng khi đám người theo xe tang về hết, tôi ngoái lại. Hình như có bóng chim sâu chon von thấp thoáng sau bia mộ, giữa làn khói nhang quặn quẹo. Tôi đồ rằng đó là ảo ảnh.
*
Đến lượt tôi vụng trộm viết thư cho em Tâm thay Huân. Phần lớn tôi viết ở cơ quan, lẫn trong đống giấy tờ bề bộn. Tôi rất sợ bị ai bắt gặp. Tôi cũng thường ngồi một mình trong nhà hàng "Hương Đêm" để ngắm dáng em xê dịch chậm chạp trên đường vào những buổi chiều tà, lòng se buồn.
Tôi đã có vợ. Tôi yêu nàng. Có lẽ vì thế, tôi viết thư khá khó khăn và ít hơi hướng của linh hồn sống. Lúc bận bịu hay lười biếng chưa kịp viết, ban đêm, khi đang ôm tấm thân yêu kiều của nàng trong tay, tôi thường thấy treo trên không trung bốn con mắt hình chiếc lá. Hai trong bốn chiếc lá lấp láy nhìn tôi. Hai chiếc còn lại thõng xuống im lìm và máu từng giọt, từng giọt một dâng lên ngập tròng hai chiếc lá. Tôi vùng dậy, đỡ lấy trái tim đập nặng nhọc trong lồng ngực.
Vợ tôi thấy vẻ thảng thốt, đã bắt đầu ngờ vực tôi chán hàng và yêu dấu tình nhân. Nàng thường tìm cớ dỗi hờn.
Tôi buồn, nên càng hay đến quán cà phê.
Tuần nay, chờ đã mấy chiều mà không thấy bóng em đi tới. Cái chấm nhỏ xíu hình xoan ấy.
Tôi tìm đến nhà em theo địa chỉ Huân để lại.
Bố em đi khập khững trong nhà như một bóng ma. Em nằm trên giường đặt cạnh cửa sổ tầng trệt. Gò má xanh nổi rõ những mạch máu nhỏ li ti.
Tôi cố tình làm ra vẻ một khách qua đường. Nhưng em đã cất đầu lên nhìn tôi, nói yếu ớt:
- Em biết anh vẫn thường gửi thư cho em - những bức thư ba lần thay chữ. Em đã nghi ngờ và để ý anh từ mấy tháng nay. Anh là Hoàng. Thường ngồi quán cà phê "Hương Đêm". Em thấy thư chữ lạ, bắt nọn chị Văn... và đã rõ...
Mắt em dâng đầy nước. Nhưng nước chỉ sóng sánh không tràn khỏi bờ mi:
- Những năm qua, các anh là cánh tay chìa ra cho một kẻ sắp chìm. Nhưng khi anh Huân chết, cô bé yêu Rôchetxtơ cũng đã bỏ đi. Em đã qua thời có thể còn tự dối mình rằng sau vỏ trứng có một hoàng tử nhỏ xíu. Đã đến lúc phải trở thành một người đàn bà... Thật khó chịu đựng...
Tôi toan ngắt lời. Nhưng em đã đặt ngón tay nhỏ như tay trẻ con lên môi tôi:
- Đừng lo! Em không chết nổi đâu. Sẽ cố. Nỡ nào cướp công các anh... – Em nghẹn ngào tiếp:
- Nhưng anh đừng viết thư nữa nhé. Chỉ xin anh thỉnh thoảng ghé thăm. Thế giới của các anh quá rộng lớn. Còn thế giới của em thì nhỏ bé. Em phải trở về thế giới của chính mình.
Phía chân trời có thể có một chú lùn. Nếu có, chú sinh ra là để cho em. Chú sẽ đến, cười bằng cái miệng rộng: "Cô bé xấu xí đợi anh lâu lắm rồi phải không?"
Tôi bỏ chạy ra đường, vội đeo kính râm vào để mọi người không nhìn thấy mắt đỏ.
Tôi đến mộ Huân. Nhớ câu hát anh thường vu vơ trên môi
"Ru em
mệt lả cơn đau Ru em
về giữa chiêm bao
Ru em. Ru em - gầy yếu hư hao..."
Và trên mộ, gió lắt lay thổi qua đám hoa lưu ly ai trồng:
"Ru...u...u"..
Đồ Sơn tháng 6-1992
V.T.H.
(In trong "Biển cứu rỗi", tập truyện ngắn Võ Thị Hảo, NXB Hà Nội)
[1] Nhân vật chính trong tiểu thuyết Jên Erơ của Sác-lôt Brônti.
==================================================
MÁU CỦA LÁ
Truyện ngắn của Phạm Minh Phong
Đã quá nhiều người tôi quen đi vào cõi vĩnh hằng vì ung thư. Trộm nghĩ đến những đến những con sâu nhỏ màu xanh đang quằn quại giãy chết trong rừng chất độc dioxin hay dưới bình phun vô-pha-tốc mà ruột gan quặn thắt buồn nôn. Con người hơn gì những con sâu đó?
Quằn quân đẹp quá! Bốn muowi hai tuổi, khuôn mặt với nước da hơi tái viền bộ râu quai nón ửng xanh, đôi mắt sâu thẳm đen láy như thấu hiểu tất cả. Tiến sĩ y khoa. Chưa vợ. Và ung thư dạ dày di căn.
Không dám nhìn Quân, tôi hướng vào cành lá thiên tuế đang thấp dần về phía đất trong chậu cảnh. Thiên tuế nhọc nhằn lắm mới ra nổi một lá.
Đang rủa thầm sao bệnh viện lại nỡ để cho con bệnh biết mình sắp chết mà quên rằng chính Quân là một trong những thầy thuốc giỏi của viện.
Quân mỉn cười nhìn tôi vẻ bất cần:
-Với tớ tất cả đã rõ ràng. Gọi cậu đến không phải để than vãn. Vài tháng nay, tớ đã cố dọ dẫm đồng hành với thần chết.
Nhấp ngụm chè sen, Quân ngửa cố nuốt từ từ như thể cố nghiệm ra điều gì đó bâng quơ:
- Cậu có biết trẻ con sợ ma chúng biểu hiện thế nào cho qua cơn sợ hãi? Đầu tiên nhắm chặt mắt lại, gào lên, gào chán bắt đầu mở he hé...nhắm tít rồi lại mở ra...Cố mở to dần và cuối cùng mở hẳn. Tớ cũng vậy, cơn hoảng loạn qua rồi. Chết trẻ thế này có lẽ lại hay, được nhiều người tiếc. Cậu đi đưa đám ma tớ chứ?
Quân lại cười nhạt. Nhưng mắt rưng rưng nhìn lên bầu trời xanh ngắt.
Tôi quay đi, lau vội nước mắt làm nhoè kính. Rồi đây nắp quan tài sẽ ập xuống dưới sức nện của chiếc búa đinh. Có lẽ nó sẽ nghẹn lại khi phải nuốt chửng một người đàn ông tuấn tú như anh!
Bỗng Quân bật dậy, căng mắt nhìn ra.
-Cậu có thấy không? Kìa, cô ấy đấy....Mình gọi cậu đến đây là vì việc này....
Phút chốc, vẻ đau đớn của con báo bị trọng thương biến mất. Đôi hàng mi anh lưng chừng khép và hơi run rẩy. Chỉ khi chờ người yêu hay một điều gì linh thiêng lắm người ta mới có được vẻ xao xuyến ấy.
Tôi nhìn theo hướng Quân nhìn, tưởng đến bóng yêu kiều của một thiếu nữ sẽ hiện ra đầu con đường nắng nhợt. Vài giây sau một chấm nhỏ hình xoan thoáng hiện. Cô xê dịch chậm chạp trên lề đường đối diện tiến đến gần.
Đó là một cô gái nhỏ xíu chỉ cao khoảng hơn một mét. Ngực lép. Đôi mắt tròn mở rưng rưng, làn môi trên hằn một vết sẹo trắng kéo miệng hơi xệch về bên trái. Chắc là sẹo vá môi, tô đồ vậy. Ngược với môi trên, môi dưới cô mọng đỏ hơi lõm giữa như lúm đồng tiền nhỏ thoáng qua, chia thành đôi cánh hoa tươi nũng nịu. Chiếc làn trên tay cô là thứ làn đi chợ các bà nội trợ thường dùng từ những năm sáu mươi. Dáng đi khập khiễng của cô khiến người ta dễ liên tưởng đến bóng con chim sâu đang nhảy chon von trên đường, mỏ quắp chiếc lá làm lệch người. Chợt bóng cô khuất sau dãy tường gấp khúc. Tôi ngóng ra xa. Người mà Quân chờ hẳn là một người đẹp, tôi nghĩ thế. Bỗng Quân rút từ trong túi ra một bì thư, mở đưa cho tôi:
- Này, nhìn đâu thế? Xem đi. Cậu đọc qua rồi sẽ hiểu.
Ngoài bì thư đề "Gửi anh M", nét chữ không đều đặn, hẳn người viết là người mơ mộng.
Tôi thoáng giật mình:
- Cậu đọc trộm thư ai vậy?
- Của tớ, thư tình đấy! Đã bảo cứ đọc đi rồi sẽ biết.
Trang giấy lấm tấm xanh, những đoạn nhạt màu có lẽ do nước mắt.
"Anh yêu!
Bẵng đi bốn tháng ròng không nhận được thư anh. Dường như em sắp chết. Chị Huyền em bảo thư thất lạc là thường, nhưng em vẫn lo anh tan ra như một làn khói!
Anh ơi! Thượng Đế đã say rượu khi nặn ra em. Hồi mười ba tuổi em suýt uống cạn bát nước lá Trúc Đào. Đó là lần đầu tiên em nhìn thấy bản thân mình hiện mồm một lên tấm gương lớn bố mới mua về. Bố em nói, em đã nhồi quá nhiều tiểu thuyết vào đầu, như thế không tốt. Không những thếm em là một tác phẩm làm hổ danh người. Mỗi lúc khách khứa đến nhà em thường tìm cách lánh mặt để làm vừa lòng bố. Rồi lúc thi vào đại học đạt điểm ưu nhưng không một trường nào nhận vì lỗi hình thể. Em đã cầu cho mình hoá điên. Người điên hạnh phúc vì họ luôn trôi mông lung trong thế giới huyền ảo, Và tất cả như đều là những con búp bê dễ thương trong vòng tay họ. Họ chẳng nhận ra cả chính mình. Thường thường dem chắp tay cầu cho mình được chết - Người chết là người có được hạnh phúc thứ hai sau người điên. Tại sao Thượng Đế nỡ đặt bộ óc vào đầu một đứa con gái mà ngài đã nặn ra trong cơn say?
Thế là em ở nhà với bếp núc, những con mèo và một gian nhà tiểu thuyết sưu tầm được. Người yêu đầu tiên của em là ông Rôchetxtơ trong bộ Jên Êrơ. Đêm đêm, đôi khi em thấy Rôchetxtơ cúi xuống mỉm cười mở vạt áo choàng sẫm màu nhẹ nhàng nhốt em vào và đi ra ngoài trời trăng. Nhưng em chợt nhận ra ông quá to lớn so với khổ người của mình. Em rụt đầu. Như thấu hiểu mọi lẽ Rôchetxtơ dừng lại, ông nhìn em thương hại, nói: "Này cô bé xấu xí yêu quý, em muốn ta nhỏ lại phải không>" Em gật đầu hàm ơn! Nhưng có tiếng máy bay sầm sập. Tiếng còi báo động. Bom xé. Nhà đổ. Trẻ khóc...Rôchetxtơ đặt em xuống lao vào lửa. Hồi sau, khi những con Diều Hâu thép thoả cơn tàn khốc bỏ đi, lửa tắt, người ta khiêng ông ra, đôi mắt chỉ còn là hai hố trống đen thui. Rôchetxtơ đã chết! "ngay cả trong mơ trời cũng cắt xén của em. Thượng Đế không cho em hưởng trọn giấc mơ nào". Em khóc với anh Hưng em. Anh Hưng lặng lẽ vuốt tóc em. Những trò chơi trẻ con mà anh ấy miệt mài bày đặt làm cho em vui không còn, kể từ ngày anh ấy đi chiến trường B
Một tháng sau em nhận được bức thư của người con trai ký tên "M". Thư anh? NHiều khi em tự hỏi, anh thật hay chỉ là hư ảo, tại sao anh giấu tên và cả một bức ảnh chân dung em cũng không được nhận? Em muốn tìm anh, Sẽ được nếu em cố tình, Nhưng em lại sợ, dù chỉ một lần thôi em tìm gặp thì những lá thư sẽ không bao giờ đến với em nữa, như lời anh đã viết. Vì thế, chính em cũng sợ phải gặp anh. Em tự dặn mình hãy bằng lòng với những trang thư. Ba năm nay em đeo lá thư đầu tiên của anh trước ngực, trong chiếc túi nhỏ sau lần áo lót....
Anh ơi! Có biết em còn muốn tự dối lòng mình hơn nữa, để không nghĩ đến một ngày sẽ chẳng còn thư. Nghĩa là chẳng còn anh và thế là cũng chẳng còn em trên cõi đời này!
Giấy báo tử của anh Hưng - Người yêu quý em nhất trên đời. Rồi bặt thư anh. Em đã nói dường như em sắp chết. Mẹ nhận được tin anh Hưng, xuất huyết não nằm liệt giường, cả ngày mở mắt chong chong thảng thốt nhìn em cười như nhìn một người xa lạ ngoài hành tinh. Bố bị huyết áp biến chứng đi lại nhiều khi phải nhờ em dìu, Chị Huyền em vừa gặp một sở khanh. Em cho rằng những người tốt thường không gặp may? Vì thế em lo cho anh. Cuối cùng Bồ Tát cũng rủ lòng từ bi trước lời khẩn cầu, sau anh Hưng hy sinh bốn tháng em lại nhận được thư anh mặc dù giọng điệu và nét chữ hơi khác. Anh bảo vừa bị thương khi làm công tác bí mật nên không viết thư được. Em cũng mong là như vậy, thế giới ngoài kia toàn là bí mật và điều bí mật lớn nhất đốivới em là anh.
Anh ơi! Em vẫn còn sống chừng nào còn thư anh...."
lá thư dài như trong tiểu thuyết và cuốn hút như có ma lực. Hơn cả những dòng chữ là một vẻ thiêng, tôi rụt tay về rồi lại chạm nhẹ mấy đầu ngón lên trang giấy nghĩ đến một thánh đường màu trắng, Trên đó, một trái tim nhỏ xíu đang thoi thóp đập.
-Thư cô đấy đây ư?
-Phải
-Lẽ nào cậu....Cậu yêu cô ấy?
-Không yêu. Không đời nào. Nhưng....
-Thế...tại sao?
Cậu đoán được tớ là tác giả của những bức thư gửi cho cô ấy! Đúng không? Nhưng chỉ đúng một nửa...
Quân ngả người sát chiếc lá thiên tuế vừa đổ xuống uốn cong thanh hình chiếc lược vàng, mơ màng kể cho tôi nghe câu chuyện rất khó tin mà xưa nay tôi tưởng chỉ gặp trong tiểu thuyết lãng mạn.
" Đã hơn mười năm trôi qua mà mỗi lần nhớ lại, ruọt gan tớ như bị ai đó nắm chặt lấy, xoắn tít...
Năm 1974 tớ ở chiến trường Buôn Mê Thuột, cùng đơn vị với Hưng. Hưng là hoạ sĩ nhập ngũ trước.Cả ngày cậu ta chỉ nói vài câu, mắt cứ lưo mơ buồn, đêm đêm thường trùm chăn viết thư dưới ánh đèn pin lập loè lúc tắt lúc bật như ma trơi. Đồn rằng cậu ta có người yêu đẹp ở Hà Nội, sợ mất nên cứ phải giữu bằng thư. Cậu từng là lính biết rồi đấy, trong chiến tranh người ta thường buộc mình vào người khác. Tự bóp nát tim hòng che giấy những tình cảm tự do nhật và hy vọng, nhờ thế khả dĩ chịu đựng được những hoàn cảnh quái gở. Cho nên, dù Hưng gan lì trong các trận đánh vẫn bị liệt vào hàng có dấu hiệu yếu đuối. cần kèm sát để phòng đảo ngũ.
Trận ấy tớ đi bên Hưng. Tiếng súng đã thưa thớt. Chiều sậm tấi buồn đứt ruột, đã kết thúc một trận đánh mà cả hai bên dần như chỉ vờn nhau để thăm dò. Tớ vốn là lính mới nên đi lại trong rừng quá chật vật, cứ tụt lại đằng sau. Hưng dừng lại chờ. Không lê nổi chân nữa, tớ ngồi xuống một tảng đá.
-Khát khô cả họng. Đứt hơi mất Hưng ạ!
Hưng nhìn quanh, đá cũng nẫu buồn ong ong. Những thân cây trút lá nâu sẫm đan chằng chịt như mê trận của quỷ sứ. Không tìm đâu ra nước. Hưng cúi xuống, dò dẫm trên dòng suối khô nứt nẻ. Hồi sau, anh khẽ reo sung sướng vồ lấy một vật bẩn bẩn tròn tròn bằng đầu ngón chân cái đưa cho tớ.
-Đập ra rồi mút đi. Đỡ khát đấy!
Tớ ghê tởm nhìn, mặc dù cổ họng như đang bị cào xé. Hưng đón lấy khéo léo đập tan. Lòng bàn tay anh lầy nhầy một thứ đen mông mốc. Nhìn kỹ, hoá ra một cái ruột ốc còn cựa quậy.
- Có lẽ đây là chú ốc duy nhất còn sót lại của rừng này, số cậu may thật. Nuốt đi! Hưng nghiêm nét mặt nhìn tớ thương cảm. Oẹ khan mấy tiếng, nhưng khát quá tớ nhắm mắt đón lấy vật bẩn thỉu đó cho vào mồm nuốt chửng rồi lấy tay bưng kín miệng, nước mắt nước mũi trào ra. Cùng với cảm giác ghê ghê tanh nồng là cơn dịu mát lan toả từ đầu lưỡi đến dạ dày khiến tớ tỉnh hẳn. Mở mắt ra, tớ thấy "Quả táo Adam: nơi cổ Hưng giật giật mấy hồi có vẻ thèm thuồng. Hoá ra anh còn khát hơn cả tớ.
-Sâm của Trường Sơn đấy. Đừng ghê!
Tớ nhăn mặt khổ sở nhìn anh hàm ơn! cả hai cùng phá lên cười. Mặt Hưng sáng ngời như trẻ thơ. ANh nhặt bên chân một quả trứng nhỏ trắng xanh tung sang:
- Trứng rắn đấy. Hồi bé mình và cái Cúc - Tên em gái Hưng- bị một phen hú vía. Nhặt được quả trứng như thế này, hai anh em thay nhau ấp trong tủ quần áo. Cái Cúc cứ đinh ninh là trứng Tiên.
Đủ tháng đủ ngày nở ra một con vật loằng ngoằng đánh võng trong tủ....
Bỗng một tiếng "bục" khẽ. Hưng đưa tay ôm ngực và cứ thế thấp dần không một tiếng kêu, gục xuống. Khoảng trắng của bàn tay anh bị nuốt dần thành quầng máu sủi bọt, im lặng đến rùng rợn.
Tớ kinh hoàng thét lên bỏ chạy. Được vài mươi bước vấp dúi dụi vào một bụi cây mới sực tỉnh, hộc tốc chạy trở lại, ào tới đỡ Hưng lên tay rối rít lau gọi...Một lát, Hưng mới khó nhọc mở mắt. Cơn đau làm nước mắt trào ra, nhểu xuống ướt đẫm cả chân tóc.
- Mình thấy nóng rẫy trong nực. Chết mất!
Tớ băng cho Hưng nhưng máu cứ lâm li thấm ướt hết lần băng này đến lần băng khác. Một viên đạn lạc đã găm vào bả vai anh. Tớ chỉ còn biết đặt anh lên đùi lật đật làm động tác vuốt nửa ngực lành còn lại trong vô vọng. Máu vẫn rỉ rả chảy xuống đùi, thoáng chốc tớ đã ngồi trong vũng máu.
Những lời cuối cùng, Hưng chỉ kể về cô em gái tật nguyền tên Cúc. Khi đó mới biết những đêm anh cặm cụi viết thư trong ánh đèn ma trơi ấy là viết cho em Cúc.
- Mình chết!...Thiếu thư....Con bé sẽ chết mất! Ngày ấy, mình giằng bát nước lá Trúc Đào trên tay nó....Rồi nghĩ ra những bức thư của chàng trai ẩn danh và nó đã tin. Chắc nó muốn tin, nó đã nhồi vào đầu biết bao điều phi lí...Nó đang tự dối lòng, nhưng biết làm sao? Mắt con bé rưng rưng. Nó cần những lời yêu đương ngọt ngào như cần nước...Bây giờ....chàng trai ẩn danh ấy là mình...chết. Những bức thư...chết và em gấi mình....!
Mắt Hưng lạc đi trong cơn đau. Anh oằn người, cào nằm đất lẫn sỏi bỏ vào miệng. Một viên sỏi vỡ "cóc" nghe khô khốc lạnh người giữa hai hàm răng nghiến chặt. Anh ngước lên nhìn tớ, ánh mắt cầu khẩn, miệng mấp máy toan nói nhưng cổ anh đã ngật ra. Cái nhìn đau đáu tạc lại trên khuôn mặt trắng nhợt tựa như thạch cao...
Cậu có tin khônhg? Tớ gào lên, lu loa như mụ đàn bà xúi quẩy ngoài chợ, Một mình trong rừng với cái xác trên đùi, thân cây đen ngòm như những bộ xương sắp nhảy bổ vào xiết cổ. Tất cả được hiện mờ mờ dưới ánh trăng non nhạt nhẽo hắt xuống đất qua sàng cành cây ma quái. Qua sơn, tớ dùng lưỡi lê hì hục đào đất đến kiệt sức mới được một cái hố nông choèn. Lấp đất xong và nằm qua đêm bên mộ, khi ấy không còn sợ nữa. Tớ nằm ngẫm ra những câu triết lý dở hơi về sự đau xót của kiếp phù sinh. Tảng sáng tớ lết về với hai chiếc ba lô và hai khẩu súng, mọi người đổ xô tới định băng bó vì thất người tớ bê bết máu và nồng nặc mùi người chết. Một tuần sau, tớ dở ba lô Hưng xem bức thư cuối cùng anh chưa kịp gửi cho Cúc, bì thư hai lớp. Lớp trong đề "Thương gửi em Kim Cúc". Lớp ngoài đề: "Gửi chị Thanh Huyền - Báo Phụ nữ - 47 - Hàng Chuối - Hà Nội". Có lẽ đó là người chuyển thư cho em Cúc bằng những lời nói dối hợp lý nhất. Tớ chép đi chép lại thư này để bắt chước nét chữ và giọng điệu văn chương ngọt ngào mơ mộng ăn sâu vào đầu. Vài tháng sau, khi đã nhập tâm, tớ bắt đầu sắm vài người con trai mang danh "M" gửi thư cho em Cúc.
Nhìn chung, gần như là một gánh nặng, Trước đây tớ tưởng chừng những câu chuyện đại loại như thế này chỉ đọc được trong sách vửo. Có ngờ đâu rằng, sau này mình lại là nhân vật chính trong câu chuyện tưởng huyền hoặc như vậy. Xưa nay tớ vốn là thằng lười học văn và viết thư nên đánh vật với những con chữ kiểu thế toát cả mồ hôi. Nhưng luôn nhớ đến ánh mắt cầu khẩn trong cơn hấp hối của Hưng và thấy ham sống hơn bao giờ hết. Đến lá thư thứ muời ba, chiến tranh kết thcú, tớ trở ra Hà Nội, lần đến nhà Hưng chuyển di vật của người đã khuất. Trông thấy em Cúc, điều đầu tiên là tớ thầm oán trời đất sao nỡ thổ vào cái vỏ tật nguyền một lương tri, một tâm hồn thật lãng mạn? Từ đó, thi thoảng tớ ghé qua nhà Hưng với tư cách là đồng đội của anh trai Cúc.
Những lá thư vẫn được gửi đi. Hình ảnh cô bé đáng thương cứ lặng lẽ hiện lên trang giấy. Tớ liên tường đến hình bóng chàng Trương Chi xưa thấp thoáng trong đáy chén bạch đằng. Từ lúc nào không biết, tớ trở thành hai. Một tớ trong tiểu thuyết tình lãng mạn đóng vai chàng trai ẩn danh viết thư cho cô bé tật nguyền những lời văn cóp từ những cuốn tiểu thuyết tình ba xu, về một tình yêu mơ mông không bao giờ có kết cục. Một tớ gần như yêu cô gái vô hình tên Cúc. Nàng ẩn hiện chơi vơi mặt che khuất bởi một màn voan trắng, chấp chới trên viền là đôi mắt mơ màng mở rưng rưng và bên trong là đôi cánh môi dưới thắm nồng nũng nịu. Nàng như sương như mật, như Đức Mẹ!
Thế là tớ ôm ấp một tình yêu không thật. Nực cười làm sao, kẻ đi gieo ảo ảnh cho người khác lại tự ấp ủ ảo ảnh ấy cho chính mình. Rồi công việc cứ cuốn đi, hết luận án phó tiến sĩ đến tiến sĩ, những ca bệnh hối hả, các cuộc hội chẩn, hội thảo liên miên...Không biết bao nhiêu nước đã chảy qua cầu. Và lẽ ra tớ đã kịp cưới một cô vợ đẹp nếu không luôn luôn cảm thấy bên cạnh ảnh ảo kia, bất cứ cô gái nào cũng trở nên dung tục dẫu biết mọi sự so sánh đều khập khiễng...."
Quân đưa tay vuốt máu tóc muối tiêu, một sợi bạc vô tình giắt vào kẽ tay, Anh nhìn nó giây lâu chợt ứa nước mắt.
- Thế mà nay tớ cũng sắp chết, cũng vắn số như anh trai Cúc. May chăng là có nhiều thời gian hơn để tìm người thay thế, tìm người có đủ lương tri để kéo dài một công việc kỳ dị, nhẫn nại thêu dệt cuộc tình mơ mộng không để cho mình. Việc đó gần như việc làm của một nhà văn và một người điên. Người đó không ai khác chính là cậu.
Tôi hoảng hốt!
-Tại sao? Tớ đã có vợ. Bất tiện lắm!
-Không cãi. Quân lạnh lùng, Chọn cậu vì cậu từng là một người lính. Cuộc chiến vừa qua đã biến chúng ra thành những người kỳ lạ, có thể là quái dị so với lối suy diễn thông tục hiện thời, hơi trái với tự nhiên và khó tin...Song đó là sự thật và sẽ là một trong những điểm sáng của những câu chuyện cổ buồn mà đời sau kể về cuộc chiến vĩ đại vừa qua của những người lính.
- Nhưng...
- Thôi đi! Không nhưng nhị gì hết. Đây là lời khẩn cầu của một người sắp chết! Cậu hiểu không?
Quân thui thủi đứng lên không cho tôi tiễn, Và tôi không ngở cả cuộc chiến tranh lại thường tái hiện trong tôi qua những giấc mơ. Cả đất nước rùng rùng ra trận, chân đi dép lốp, tay cầm súng, ngực đeo những lá thư, những trang văn, trang thơ bay cùng những lá thư thất lạc và không thất lạc, có người nhận và không có người nhận, Tất cả cứ bay đầy trời, nhiều hơn cả sao, cả lá rụng. Trong đó tôi thấy mình rất rõ, Vàng bựng, đang chạy, đưa một phong thư ngậm lên miệng trước khi ngã xuống.
Những ngày tiếp sau Quânvàng võ tiều tuỵ, xẹp nhanh như một trái cây héo. Tôi thường bắt gặp anh nằm trên giường ôm bụng lăn lộn, miệng thở ra máu tươi. Lúc được yên ổn một chút anh đọc đi đọc lại những lá thư gửi cho em Cúc.
Một ngày nắng đẹp, gió heo may và hoa cúc ngập tràn phố phường, ngày không ai nỡ nghĩ đến cái chết. Thế mà Quân ra đi. Tôi đẩy cửa bước vào thăm anh như thường lệ. Quân đã nằm như ngủ trên giường, cánh cửa chớp nhìn ra đường được kéo lên, nắng hắt hiu chiếu vào xác người đàn ông vạm vỡ xấu số. Quân đã chết! Một cái chết được biết và chuẩn bị trước. Mấy dòng nguệch ngoạc trong cuốn vở mở sẵn trên bàn có lẽ anh giành cho tôi.
"Thời sinh viên hai đứa thường đọc cho nhau nghe Chiếc lá cuối cùng. Có hiểu Chiếc lá cuối cùng đối với người sắp chết có ý nghĩa thế nào không? Tớ không có chiếc lá đó Tú ạ.
Hãy đặt trên bậu cửa nhà em Cúc Chiếc lá cuối cùng Tú nhé!
Vĩnh biệt bạn thân yêu!"
Tôi mụ mị ra đường, vẫy một chiếc xích lô đi báo tang. Phố phường đặc ngầu tiếng chửi thề. Ngã tư xôn xao, chợ ven đường nhốn nháo: Một tên cướp vừa giật chiếc hoa tai của người đàn bà áo trắng, máu loang lổ cả bờ vai. Tưởng rằng chỉ trong chiến tranh mới có máu? Cổng toà án, một cụ già có lẽ thua kiện ngồi bệt bên lề đường, bưng mặt: "Công lí ơi! Cứu tôi! Công lí đâu rồi, trời có mắt không ?". Cách đó không xa, một người đàn ông hồng hào phốp pháp liếc xéo sang, kín đáo cười khẩy trước khi chui hẳn vào chiếc xe con phóng vút, vứt lại đằng sau một cuộn bụi mù mịt, Một thầy tu chân trần niệm nam mô hành khất. Trước cổng nhà thờ vị linh mục đang làm dấu rửa tôi cho mọi người. Trong dòng đó, ngày mai sẽ có chiếc xe tang của Quân hoà vào dòng người mê sảng nặng mùi tục luỵ.
Đám tang Quân tôi không trông thấy Cúc. Nhưng khi đám người theo xe tang về hết, tôi ngoái lại, hình như có một bóng chim sâu chon von thấp thoáng sau lùm lá đỏ nơi bia mộ giữa làn khói nhang quặn quẹo. Tôi cú cảm thấy cái màu đỏ lá cây ấy chập chờn và tôi đồ rằng đó là ảo ảnh.
.......................
(Đăng trên Báo Văn Nghệ số 26 ra ngày 25/6/2005)